Luận văn thạc sĩ ussh thực tiễn quá trình tái hình thành cộng đồng cư dân tại vùng đông bắc nhật bản sau thảm họa kép tháng 3 năm 2011

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh thực tiễn quá trình tái hình thành cộng đồng cư dân tại vùng đông bắc nhật bản sau thảm họa, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Châu Á học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/2011 VÀ BIẾN ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÙNG ĐÔNG BẮC

1.1. Khái quát về thảm họa và bối cảnh cộng đồng dân cư vùng Đông Bắc sau thảm họa

1.2. Thảm họa kép tháng 3/2011

1.2.1. Thiệt hại sau thảm họa kép tháng 3/2011

1.2.2. Chính sách sơ tán, tái định cư của chính phủ Nhật Bản, chính quyền địa phương và tình hình di cư sau thảm họa

1.2.3. Chỉ đạo sơ tán và di cư từ chính phủ và chính quyền địa phương

1.2.4. Vai trò của chính phủ và chính quyền địa phương trong hành động ứng phó và phục hưng sau thảm họa

1.2.5. Những hệ lụy xã hội của thảm họa kép tháng 3/2011

1.3. THỰC TRẠNG TÁI HÌNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ SAU THẢM HỌA KÉP THÁNG 3 NĂM 2011

1.3.1. Khái niệm “cộng đồng” và bối cảnh “tái hình thành cộng đồng” dân cư sau thảm họa

1.3.2. Định nghĩa “cộng đồng” và sự cần thiết của “cộng đồng”

1.3.3. “Tái hình thành cộng đồng” sau thảm họa kép tháng 3/2011

1.3.4. Tái hình thành cộng đồng dân cư tại các nơi cư trú, di cư sau thảm họa kép tháng 3/2011

1.3.5. Cộng đồng tại điểm sơ tán, lánh nạn, nhà tạm trú

1.3.6. Liên kết cộng đồng trong chuỗi nhà ở xã hội sau thảm họa

1.3.7. Cộng đồng tái hình thành sau khi quay về quê hương

1.3.8. Tình hình tái hình thành cộng đồng sau thảm họa qua các cuộc khảo sát định kỳ hàng năm của NHK

1.4. Những vấn đề xã hội liên quan tới hoạt động tái hình thành cộng đồng sau thảm họa

1.4.1. Kỳ thị, phân biệt đối xử với người sơ tán từ tỉnh Fukushima

1.4.2. Chết cô độc tại nhà tạm trú, nhà ở xã hội sau thảm họa

1.4.3. Các vấn đề của quá trình tái hình thành cộng đồng qua khảo sát ý hướng của người nạn nhân sau thảm họa

3. CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH TÁI HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ SAU THẢM HỌA - TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ MINAMISOMA (TỈNH FUKUSHIMA)

3.1. Khái quát về thành phố Minamisoma và tình hình sau thảm họa

3.1.1. Khái quát về thành phố Minamisoma

3.1.2. Tình hình thành phố Minamisoma sau thảm họa kép

3.1.3. Kế hoạch tái thiết ở thành phố Minamisoma

3.2. Diễn tiến quá trình, và các hoạt động tái hình thành cộng đồng ở Minamisoma 7 năm sau thảm họa

3.2.1. Cộng đồng tại điểm sơ tán, lánh nạn, nhà tạm trú tại thành phố Minamisoma

3.2.2. Tái hình thành cộng đồng trong các nhà ở xã hội ở Minamisoma

3.2.3. Cộng đồng tái hình thành sau khi quay về quê hương ở Minamisoma

3.2.4. Thực trạng tái hình thành cộng đồng qua các cuộc khảo sát chí hướng cư dân và một số khó khăn quá trình phục hưng ở Minamisoma

3.2.5. Cuộc khảo sát chí hướng dân cư hàng năm bởi chính quyền thành phố Minamisoma

3.2.6. Những khó khăn trong quá trình phục hưng ở thành phố Minamisoma

Tóm tắt

I. Tổng quan về tái hình thành cộng đồng cư dân Đông Bắc Nhật Bản sau thảm họa kép 2011

Thảm họa kép tháng 3 năm 2011 đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho cộng đồng cư dân tại vùng Đông Bắc Nhật Bản. Sự kết hợp giữa động đất và sóng thần đã làm thay đổi hoàn toàn bối cảnh sống của hàng triệu người. Việc tái hình thành cộng đồng cư dân không chỉ là một nhiệm vụ khôi phục vật chất mà còn là một quá trình phức tạp liên quan đến tâm lý và xã hội của người dân.

1.1. Tình hình cộng đồng trước thảm họa kép 2011

Trước thảm họa, cộng đồng cư dân tại Đông Bắc Nhật Bản có sự gắn kết mạnh mẽ. Các mối quan hệ xã hội được xây dựng qua nhiều thế hệ, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự phát triển. Tuy nhiên, thảm họa đã làm đứt gãy những mối liên kết này, dẫn đến sự phân tán và khủng hoảng tâm lý cho nhiều người.

1.2. Những tác động của thảm họa kép đến cộng đồng

Thảm họa kép đã gây ra không chỉ thiệt hại về vật chất mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý và xã hội của cư dân. Nhiều người phải rời bỏ quê hương, sống trong các khu tạm trú, dẫn đến sự cô đơn và cảm giác mất mát. Các chương trình hỗ trợ cộng đồng đã được triển khai để giúp người dân vượt qua giai đoạn khó khăn này.

II. Các thách thức trong quá trình tái hình thành cộng đồng cư dân sau thảm họa

Quá trình tái hình thành cộng đồng cư dân sau thảm họa kép 2011 đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như tâm lý của người dân, sự phân tán địa lý và thiếu hụt nguồn lực đã làm cho việc khôi phục trở nên khó khăn hơn.

2.1. Tâm lý và cảm xúc của cư dân sau thảm họa

Nhiều cư dân trải qua cảm giác mất mát và cô đơn. Tâm lý này ảnh hưởng đến khả năng tái hòa nhập và xây dựng lại cộng đồng. Các chương trình hỗ trợ tâm lý đã được triển khai để giúp người dân vượt qua giai đoạn khó khăn này.

2.2. Sự phân tán địa lý và khó khăn trong kết nối

Sau thảm họa, nhiều cư dân phải di chuyển đến các khu vực khác nhau, dẫn đến sự phân tán địa lý. Điều này làm cho việc kết nối lại các mối quan hệ xã hội trở nên khó khăn hơn, ảnh hưởng đến quá trình tái hình thành cộng đồng.

III. Phương pháp tái hình thành cộng đồng cư dân hiệu quả sau thảm họa

Để tái hình thành cộng đồng cư dân, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các chương trình hỗ trợ từ chính phủ và tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc khôi phục cuộc sống của người dân.

3.1. Các chương trình hỗ trợ cộng đồng

Chính phủ Nhật Bản đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ nhằm khôi phục cuộc sống cho cư dân. Các chương trình này bao gồm hỗ trợ tài chính, cung cấp nhà ở tạm thời và các dịch vụ xã hội khác.

3.2. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ

Các tổ chức phi chính phủ đã đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ cộng đồng. Họ cung cấp các dịch vụ tư vấn, tổ chức các hoạt động kết nối cộng đồng và hỗ trợ tâm lý cho cư dân.

IV. Kết quả nghiên cứu về tái hình thành cộng đồng cư dân Đông Bắc Nhật Bản

Nghiên cứu cho thấy rằng quá trình tái hình thành cộng đồng cư dân tại Đông Bắc Nhật Bản đã đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua.

4.1. Những thành công trong tái hình thành cộng đồng

Nhiều cộng đồng đã bắt đầu khôi phục lại các mối quan hệ xã hội và xây dựng lại cuộc sống. Các hoạt động cộng đồng đã được tổ chức để tạo ra sự gắn kết giữa các cư dân.

4.2. Những thách thức còn tồn tại

Mặc dù đã có những thành công, nhưng vẫn còn nhiều thách thức như tâm lý của cư dân, sự phân tán địa lý và thiếu hụt nguồn lực. Cần có các giải pháp bền vững để tiếp tục hỗ trợ cộng đồng trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của cộng đồng cư dân Đông Bắc Nhật Bản

Quá trình tái hình thành cộng đồng cư dân Đông Bắc Nhật Bản sau thảm họa kép 2011 là một hành trình dài và đầy thử thách. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức, cộng đồng đang dần hồi phục.

5.1. Tương lai của cộng đồng cư dân

Tương lai của cộng đồng cư dân Đông Bắc Nhật Bản phụ thuộc vào khả năng duy trì các mối quan hệ xã hội và phát triển kinh tế. Cần có các chính sách hỗ trợ bền vững để đảm bảo sự phát triển lâu dài.

5.2. Bài học từ thảm họa

Thảm họa kép 2011 đã để lại nhiều bài học quý giá về sự chuẩn bị và ứng phó với thiên tai. Những bài học này cần được ghi nhớ để cải thiện khả năng ứng phó trong tương lai.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ đƣợc triển khai theo cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Thảm họa kép tháng 3/2011 và biến động cộng đồng dân cƣ vùng Đông Bắc: trình bày thông tin sơ lƣợc về thảm họa kép và những hậu quả để lại cho 3 tỉnh Đông Bắc Nhật Bản và những thiệt hại và thay đổi trong đời sống tâm lý xã hội cƣ dân trong vùng. Chƣơng 2: Thực trạng tái hình thành cộng đồng dân cƣ sau thảm họa: từ việc làm sáng tỏ lý thuyết cộng đồng, những yếu tố hỗ trợ công cuộc tái hình thành cộng đồng khu vực tới tìm hiểu, phân tích thực trạng đặc điểm tái hình thành cộng đồng tại các loại hình cƣ trú sau thảm họa. Thông qua số liệu khảo sát thực tế hàng năm của đài NHK làm sáng tỏ đặc điểm, chuyển biến của quá trình tái hình thành cộng đồng và những hạn chế phát sinh. Chƣơng 3: Quá trình tái hình thành cộng đồng dân cƣ sau thảm họa - trƣờng hợp thành phố Minamisoma (tỉnh Fukushima) tập trung phân tích quá trình tái hình thành cộng đồng trƣờng hợp thành phố Minamisoma.

Thực hiện đối chiếu với chính sách từ chính quyền địa phƣơng để bƣớc đầu lí giải đƣợc ảnh hƣởng của điều kiện riêng từng khu vực tới quá trình tái hình thành cộng đồng và phục hƣng sau thảm họa. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. THẢM HỌA KÉP THÁNG 3/2011 VÀ BIẾN ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ VÙNG ĐÔNG BẮC Hậu quả mà thảm họa kép ngày 11/3/2011 gây ra cũng giống nhƣ các thảm họa thiên tai tự nhiên khác trong lịch sử Nhật Bản, không chỉ thể hiện ở những con số thiệt hại về tính mạng con ngƣời, nhà cửa vật chất mà còn thể hiện ở sự biến động, xáo trộn về đời sống trong cƣ dân trong vùng chịu ảnh hƣởng. Tuy nhiên, với tính chất phức hợp của một thảm họa kép động đất- sóng thần, đặc biệt là sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima xảy ra ngay sau đó đã khiến cho biến động về cấu trúc dân cƣ vùng Đông Bắc diễn trên phạm vi rộng, lâu dài và phức tạp hơn nhiều so với các thảm họa khác.

Trong chƣơng 1, thông qua việc tổng hợp, phân tích các số liệu về thiệt hại và biến động đổi nơi cƣ trú, ngƣời viết sẽ phân tích tình hình dân cƣ và những hệ lụy xã hội liên quan tới cộng đồng dân cƣ sau khi xảy ra thảm họa kép. Khái quát về thảm họa và bối cảnh cộng đồng dân cƣ vùng Đông Bắc sau thảm họa 1. Thảm họa kép tháng 3/2011 Vào 14 giờ 46 phút ngày 11/3/2011, một trận động đất cƣờng độ 9,0 độ M với tâm chấn ở khu vực Sanriku đã xảy ra, gây ra rung chấn cấp độ 710 theo thang chấn độ của Nhật Bản ở thành phố Kurihara, Miyagi, cấp độ 6 ở 37 đơn vị hành chính thuộc 4 tỉnh Miyagi, Fukushima, Ibaraki và Tochigi. Ngoài ra, trên phạm vi rộng từ Hokkaido tới Kyushu đều đo đƣợc rung chấn từ cấp độ 1 tới cấp độ 6.

Tâm chấn của trận động đất này ƣớc tính sâu khoảng 24 km, khu vực tâm chi có phạm vi rộng, khoảng 500 km theo chiều Nam Bắc và 200 km theo chiều Đông Tây, với diện tích là khoảng 100.000 km² với thời gian rung chấn liên tục trong 160 giây. Về cơ chế động đất, Ide Satoshi đã chỉ ra rằng thảm hoạ kép động đất và sóng thần ngày 11/3/2011 có nguyên nhân từ sự dịch chuyển các mảng địa tầng kiến tạo xung 10 Theo thang phân cấp độ động đất của Cục Khí tƣợng Nhật Bản dựa trên độ rung lắc khi xảy ra động đất. Thang đo hiện tại đƣợc phân loại 10 cấp độ : 0,1, 2, 3, 4, 5 yếu, 5 mạnh, 6 yếu, 6 mạnh và cấp độ 7. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quanh Nhật Bản.

Ông cho rằng trận động đất bắt đầu với mảng địa tầng Bắc Mỹ trƣợt tƣơng đối chậm dọc theo đƣờng tiếp giáp với địa tầng Thái Bình Dƣơng cách bờ biển Nhật Bản ở độ sâu 20km. “Sự chuyển động trƣợt lan truyền theo bờ biển trong khoảng 40 giây đã tạo nên đợt trấn động mạnh dọc theo vùng Đông Bắc Nhật Bản. Khoảng 1 phút sau khi động đất bắt đầu, sự dịch chuyển tiến nhanh đến gần Rãnh Nhật Bản làm cho mảng địa tầng Bắc Mỹ trƣợt khoảng 30 mét. Ide cho rằng hiện tƣợng này đã nâng một khối lƣợng nƣớc biển khổng lồ tạo nên đợt sóng thần khủng khiếp” [2, tr 77].

Theo Cơ quan Khảo sát địa chất Hoa Kỳ, đây đƣợc ghi nhận là trận động đất có cƣờng độ lớn thứ bảy trong lịch sử nhân loại, lớn thứ tƣ trong vòng 100 năm nay và lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản [6, tr 3]. Những diễn biến tiếp theo trận động đất là các cơn dƣ chấn và sóng thần. Ba ngày sau trận động đất chính, các quan trắc đã cho thấy hơn 200 dƣ chấn đã xảy ra. Sau khi động đất xảy ra, dựa trên cƣờng độ trận động đất, để tối đa hóa thời gian cho sơ tán, Cơ quan Khí tƣợng Nhật Bản đã ban hành cảnh báo sóng thần vào 14 giờ 49 phút - tức là 3 phút sau khi động đất xảy ra và đúng nhƣ cảnh báo, toàn bộ bờ biển Nhật Bản, đặc biệt là vùng Đông Bắc, đã ghi nhận phát sinh sóng thần mức độ nhẹ.

Tuy nhiên tới khoảng 15 giờ, tức 15 phút sau động đất, các đợt sóng nhẹ bắt đầu chuyển thành cơn sóng cao ập vào bờ. Tiếp sau đó khoảng 10 phút đã xuất hiện các đợt sóng thần khổng lồ, càn quét trên diện tích rộng khu vực ven biển Đông Bắc Nhật Bản. Tại thành phố Minamisoma (Fukushima) đã xuất hiện sóng thần cao trên 9,3 m, tại thành phố Ishinomaki (Miyagi) có sóng thần cao trên 8,6 m. Ngoài khu vực bờ biển Đông Bắc có sóng thần cao gây hại mức độ nghiêm trọng, bờ biển từ Hokkaido tới tỉnh Kagoshima và quần đảo Ogasawara đều ghi nhận sóng thần cao trên 1 m.

Tại các thành phố ven biển, sóng thần đã cuốn nhiều tàu, thuyền vào khu vực bờ biển, đồng thời cuốn trôi nhiều ô tô trên các tuyến đƣờng tại thị trấn. Sóng cũng đã cuốn trôi nhiều thành phố, làng mạc ra biển. Các tổ hợp công nghiệp ven biển nhƣ nhà máy hóa dầu.đã bốc cháy, hệ thống cầu đƣờng bị sập hoặc ngập sâu trong nƣớc biển. Sóng thần lan dọc bờ biển Thái Bình Dƣơng của Nhật Bản và ảnh hƣớng tới ít nhất 20 quốc gia, bao gồm cả bờ biển phía Tây của Bắc và Nam Mỹ.

16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngay sau thảm họa động đất và sóng thần, Nhật Bản phải đƣơng đầu với chuỗi sự cố nhà máy điện hạt nhân bắt đầu vào chiều ngày 12/3/2011. Thị trấn Naraha, Tomikoka, Okuma và thị trấn Futaba - những khu vực có nhà máy điện hạt nhân của công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) - đã xảy ra rung chấn cấp độ 6, cùng với ảnh hƣởng của sóng thần, nhà máy điện hạt nhân số 111 đã bị ngập nƣớc 15m, nhà máy điện số 2 bị ngập nƣớc 7m. Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I có 6 tổ máy với tổng công suất lên đến 4.696 MW, lớn gấp gần 3 lần công suất nhà máy thủy điện Hòa Bình của Việt Nam, đƣợc xây dựng từ những năm 1970. Theo báo cáo của Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO), khi xảy ra động đất và sóng thần, ba lò phản ứng số 4, 5, 6 của nhà máy điện hạt nhân số 1 đang trong quá trình sửa chữa, chỉ có lò phản ứng 1, lò phản ứng số 2 và lò phản ứng số 3 hoạt động [6, tr 4].

Các lò phản ứng đều tự động ngừng hoạt động sau khi động đất xảy ra. Tuy nhiên, do trận sóng thần tràn đến đã làm hƣ hỏng hệ thống làm mát chính và dự phòng nên tại các lò phản ứng đã phát sinh hiện tƣợng gia tăng nhiệt, tích tụ khí hydro. Ba lò phản ứng số 1, 2, 3 đã phát nổ và xảy ra cháy ở lò phản ứng số 4. Hậu quả là một khối lƣợng lớn chất phóng xạ đã bị rò rỉ ra ngoài môi trƣờng.

Cơ quan Khí tƣợng Nhật Bản xác định đây là trận động đất quy mô lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, gọi tên là “Đại Động đất Đông Bắc ”(東北大震災). Dựa vào phạm vi ảnh hƣởng của thảm họa, ngày 1/4/2011, Nội các Nhật Bản đặt tên là “Đại động đất miền Đông Nhật Bản” (東日本大震災). Trong tiếng Việt, “thảm họa” đƣợc định nghĩa là những “tai họa lớn, gây nhiều cảnh đau thƣơng, tang tóc”12. Với diễn biến là sự phát sinh liên tiếp của động đất - sóng thần và sự cố nhà máy điện hạt nhân, gây ra những thiệt hại lớn về ngƣời và tài sản cho vùng Đông Bắc Nhật Bản, ngƣời viết đã chọn sử dụng cách gọi “thảm họa kép tháng 3/2011” trong chuyên đề luận văn này.

11 Nhà máy điện hạt nhân số 1 nằm ở ven bờ biển Thái Bình Dƣơng của tỉnh Fukushima, giữa thị trấn Okuma và Futaba thuộc quận Futaba, cách Tokyo 220 km về phía Đông Bắc. 12 Hoàng Phê (2017) “Từ điển tiếng Việt”- trung tâm từ điển học Vielex, NXB Đà Nẵng, tr 904 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thiệt hại sau thảm họa kép tháng 3/2011 Đến ngày 7/3/2018, theo số liệu tổng kết báo cáo lần thứ 157 của Ủy ban Ứng phó Hỏa hoạn và Thiên tai, Bộ Nội vụ Nhật Bản, thiệt hại luỹ kế sau thảm họa kép đƣợc thống kê nhƣ bảng dữ liệu dƣới đây. Bảng 0-1: Bảng thống kê thiệt hại thảm họa kép ngày 11/3/2011 tính đến 2018 theo số liệu tổng kết của Ủy ban ứng phó Hỏa hoạn và Thiên tai Thiệt hại Tỉnh Tỉnh Tỉnh Fukushima Tổng 3 Toàn Iwate Miyagi tỉnh Nhật Thành phố vùng Bản Minamisoma Đông Bắc Số Chết 5.630 ngƣời Mất tích 1.230 thƣơng Nhà Toàn bộ 19.781 cửa Một nửa 6.628 trên sàn Ngập 6 7.075 dƣới sàn Ngoài C.555 nhà công cửa cộng Khác 4.037 Số vụ hỏa họa 33 137 38 1 208 330 (Nguồn: Ngƣời viết tự lập dựa trên số liệu thống kê báo cáo lần thứ 157 của Trụ sở Ứng phó Hỏa hoạn và Thiên tai, Bộ Nội vụ Nhật Bản) 13 13 http://www.jp/bn/higaihou/pdf/jishin/157.pdf (03/12/2018) 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo bảng thống kê trên, tính tới thời điểm ngày 1/3/2018, tổng số ngƣời chết và mất tích sau thảm họa kép trên toàn đất nƣớc Nhật Bản là 22.

Số nhà bị thiệt hại toàn bộ là 121.781 nhà, số nhà thiệt hại một nửa là 280.962 nhà, thiệt hại một phần là 744. Đối với Nhật Bản, thảm họa kép tháng 3/2011 đã trở thành một mốc biến cố thiệt hại lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ