CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN VÀ TÁI CƠ CẤU QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Lý luận chung về Quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân Quá trình hình thành và phát triển mô hình QTDND luôn gắn liền với lịch sử phong trào HTX nói chung và HTX tín dụng nói riêng. Cho đến nay các HTX tín dụng hầu như đã hiện diện ở tất cả các nước với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau như: HTX tín dụng, QTD và tiết kiệm, QTDND, NH, HTX,.
trong đó mô hình QTDND phát triển khá thành công ở các nước: Pháp, Đức, Nga, Canada, Malaysia, Indonesia, Thái lan…. Theo HH Liên minh tín dụng quốc gia Hoa Kỳ (National Credit Union Administration) thì QTD là một định chế tài chính phi lợi nhuận, các TV vừa là người được làm chủ và kiểm soát QTD vừa là người sử dụng các dịch vụ của QTD. Theo Hội đồng Liên minh Tín dụng Thế giới (“World Council of Credit Union”, viết tắt là WOCCU) thì QTD là một loại hình trung gian tài chính mang tính tư nhân và hợp tác. Việc gia nhập vào QTD được mở rộng trên cơ sở tự nguyện.
Các TV QTD vừa sở hữu vừa quản lý QTD một cách dân chủ. Ở Việt Nam, theo Nghị định 48/2001/NĐ-CP của Chính phủ, lúc đầu đưa ra khái niệm QTDND là loại hình TCTD hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các TV, nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng TV giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động SXKD, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển, khi được ban hành thì quan niệm về QTDND được điều chỉnh “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận, tên gọi khác nhau, song đều có sự thống nhất về khái niệm QTDND với nội dung: QTDND là loại hình NH hợp tác do các TV tự nguyện góp vốn thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các TV, nhằm phát huy 9 sức mạnh của tập thể và của từng TV giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và nông thôn.
* Với tính chất là mô hình KTTT, QTDND có cơ cấu tổ chức như sau: TV của QTDND là chủ sở hữu, đồng thời là khách hàng của QTDND. TV có vị trí quan trọng trong sự tồn tại phát triển của QTDND. TV QTDND có thể là: cá nhân; hộ gia đình; pháp nhân đủ điều kiện đều có thể trở thành TV QTDND. Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ góp vốn vào QTDND, TV còn có quyền được gửi tiền, vay vốn, được chia lãi vốn góp và một số quyền khác.
ĐHTV là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của QTDND (Quốc hội, 2010). ĐHTV quyết định những vấn đề quan trọng của QTDND như: kết quả và phương hướng hoạt động kinh doanh hàng năm; cơ cấu bộ máy quản lý, điều hành; sửa đổi điều lệ; tăng giảm VĐL; phương án tiền lương. Việc xem xét quyết định của ĐHTV được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng giữa các TV góp vốn và quyết định theo đa số (NHNN, 2015). HĐQT do ĐHTV trực tiếp bầu ra để thay mặt TV quản trị QTDND, TV HĐQT phải là TV của QTDND.
HĐQT chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước ĐHTV và trước pháp luật. Chủ tịch HĐQT là người đại diện cho QTDND trước pháp luật (NHNN, 2015). Ban kiểm soát do ĐHTV bầu trực tiếp nhằm thay mặt các TV kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của QTDND. TV của Ban kiểm soát phải là TV của QTDND và không được là TV của HĐQT hoặc nhân viên nghiệp vụ của QTDND để đảm bảo việc kiểm tra giám sát một cách khách quan.
Bộ máy điều hành gồm có Giám đốc, Phó Giám đốc; giúp việc cho Bộ máy điều hành còn có các phòng, bộ phận như kế toán, tín dụng, ngân quỹ và các nhân viên khác. Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước HĐQT trong việc điều hành các công việc hàng ngày của QTDND theo nhiệm vụ quyền hạn được giao (NHNN, 2015). Sơ đồ tổ chức bộ máy Quỹ tín dụng nhân dân 1. Đặc trưng cơ bản trong tổ chức và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân QTDND là một loại hình NHHTX, có tính chất, đặc điểm riêng trong tổ chức và hoạt động: Thứ nhất, QTDND được tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh tế hợp tác.
TV của Quỹ là các chủ thể kinh tế độc lập, tự nguyện gia nhập khi họ xét thấy QTDND mang lại lợi ích cho họ, có thể giúp họ nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD; ngược lại, khi không mang lại lợi ích, họ không tham gia hoặc xin ra khỏi QTDND. Nguyên tắc này tạo động lực cho QTDND phấn đấu hoạt động tốt hơn, lấy việc hỗ trợ TV làm trung tâm trong mọi hoạt động của mình nhằm giữ ổn định và phát triển TV mới cũng như là khách hàng, vì không có TV thì không có sự tồn tại, phát triển của QTDND. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng tạo ra sự biến động về TV và VĐL, ảnh hưởng nhất định đến các chỉ số an toàn trong hoạt động, hơn nữa xuất phát từ tính chất hoạt động của QTDND mang tính rủi ro cao và tính nhạy cảm, nên việc gia nhập hoặc ra khỏi TV QTDND cũng thường ràng buộc bởi một số điều kiện nhất định theo quy định pháp luật và quy định tại Điều lệ của QTDND. TV QTDND có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát QTDND và tự mình toàn quyền quyết định các vấn đề của QTDND theo khuôn khổ Điều lệ hợp pháp và theo các quy định của pháp luật mà không lệ thuộc vào vốn góp, không phân biệt giới tính, giai cấp, tín ngưỡng, giàu nghèo.
Việc tôn trọng nguyên tắc này góp phần trong mọi định hướng, phương án hoạt động của QTDND luôn bám sát mục tiêu hỗ trợ TV. 11 Cũng như bất kỳ các loại hình tổ chức kinh tế khác, QTDND tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình. Tuy nhiên, do chủ sở hữu QTDND đồng thời cũng là khách hàng, nên họ là người tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của QTDND và việc phân phối thu nhập được thực hiện theo nguyên tắc cùng có lợi cho các TV. Lợi nhuận sau thuế có được của QTDND do chính TV QTDND tạo ra, trong đó TV góp vốn/hoặc/và sử dụng dịch vụ càng nhiều thì mức độ đóng góp, tạo lợi nhuận cho QTDND càng lớn.
Do vậy, ngoài việc phân phối thu nhập theo vốn góp, để đảm bảo cùng có lợi thì việc phân phối còn được thực hiện theo mức độ sử dụng dịch vụ do QTDND cung cấp. Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi đòi hỏi QTDND phấn đấu hoạt động tốt hơn, lấy lợi ích TV làm trung tâm trong hoạt động của mình. Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng: lịch sử phát triển phong trào HTX trên toàn thế giới đã rút ra chân lý là chỉ có loại hình kinh tế hợp tác, là mô hình tổ chức KTTT do những người nghèo và người sản xuất nhỏ tự nguyện hợp tác với nhau thành lập và cùng quản lý mới có thể hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD nhằm giúp họ thoát khỏi nghèo đói và cải thiện đời sống. Hơn nữa, trong điều kiện hoạt động QTDND phải cạnh tranh với các NH khác, không chỉ đòi hỏi Quỹ phải khai thác các ưu thế, lấy lợi ích TV làm trung tâm trong hoạt động mà còn luôn đòi hỏi TV QTDND luôn nêu cao tinh thần hợp tác, phát triển cộng đồng, nhất là trong việc góp vốn, sử dụng dịch vụ và có trách nhiệm, tham gia tích cực hơn vào công tác quản lý và giám sát để duy trì sự phát triển bền vững của tổ chức mình, cũng như hệ thống tổ chức liên kết của mình.
Thứ hai, mục tiêu hoạt động chủ yếu của QTDND là tương trợ giữa các TV, vì lợi ích của TV. Các TV QTDND là các chủ thể hoạt động kinh tế độc lập, khi họ tham gia góp vốn thành lập QTDND thì mục tiêu cơ bản là để được hỗ trợ nhau, mang lại lợi ích cho đời sống và hoạt động SXKD của mình. Tuy nhiên, để có cơ sở tồn tại và phát triển mở rộng, QTDND cũng phải coi trọng hiệu quả kinh doanh, hoạt động làm sao phải có lãi. Khác với mục tiêu hoạt động của NHTM là tối đa hóa lợi nhuận cho các chủ sở hữu, việc QTDND tìm cách thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn là phương tiện để QTDND thực hiện mục tiêu cơ bản được lâu dài hơn, với điều kiện ngày càng thuận lợi hơn, chất lượng dịch vụ tốt hơn và chi phí hợp lý hơn.
Thứ ba, hoạt động của QTDND mang tính rủi ro cao, có tính nhạy cảm và luôn 12 chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật. Cũng giống như các NHTM khác, hoạt động kinh doanh của QTDND luôn gắn liền với các rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro kỳ hạn…, song mức độ rủi ro của QTDND thường lớn hơn do hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cho vay đối với các TV ở khu vực nông nghiệp, nông thôn - nơi mặt bằng kinh tế còn thấp, SXKD phụ thuộc nhiều yếu tố khách quan, trong khi đó quy mô hoạt động và năng lực tài chính của các QTDND thường nhỏ bé, trình độ của đội ngũ cán bộ còn hạn chế. Mặt khác, do tính chất hoạt động của QTDND dựa trên niềm tin, nên mang tính nhạy cảm và tính lan truyền cao, nhất là trong điều kiện khách hàng là đối tượng dễ bị tổn thương, thông tin bị hạn chế và khả năng tự bảo vệ của mỗi QTDND còn rất hạn chế, nên chỉ cần một biến động nhỏ cũng có thể tác động từ QTDND này đến QTDND khác, gây mất an toàn chi trả và đối mặt với những nguy cơ đổ vỡ dây chuyền nếu như không có giải pháp xử lý kịp thời.