CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ TÁI CẤU TRÚC VỐN 1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH, CẤU TRÚC VỐN 1.1 Khái niệm về cấu trúc tài chính, cấu trúc vốn và sự cần thiết phải nghiên cứu cấu trúc vốn 1.1 Khái niệm về cấu trúc tài chính, cấu trúc vốn Cấu trúc tài chính bao gồm nợ ngắn hạn cộng với nợ trung, dài hạn và vốn cổ phần thường để tài trợ tài sản của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ trung, dài hạn và vốn cổ phần thường của doanh nghiệp .1: Sơ đồ biểu diễn cấu trúc vốn của doanh nghiệp Vốn vay, Vốn cổ 40% phần, 40% Vốn cổ Vốn vay, phần, 60% 60% Công ty có thể chọn lựa một trong nhiều cấu trúc vốn có thể thay thế cho nhau, ví dụ như công ty có thể chấp nhận cấu trúc vốn có tỷ lệ nợ rất cao, hay một cấu trúc vốn có tỷ lệ nợ thấp, công ty có thể phát hành cổ phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có khả năng chuyển đổi, thuê tài chính …vì số lượng các yếu tố là rất lớn nên sự thay đổi trong cấu trúc vốn là vô hạn. Trong giá trị sổ sách và nguồn vốn công ty, chúng ta xác định được giá trị của công ty sẽ là tổng của nợ và vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần trong công ty cổ phần) V = D+E Trong đó V : Value: giá trị D : Debt: nợ (nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) E: Equity: vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần trong công ty cổ phần) Phạm Thị Ngọc Hạnh Khóa 15 123doc Luận văn tốt nghiệp -2- Nợ thể hiện nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải gánh chịu do mối quan hệ vay mượn. Nợ luôn có tính đáo hạn sau một thời gian quy định.
Khi đến hạn trả, doanh nghiệp phải trả cả nợ gốc và lãi vay. Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn khác nhau ở thời gian chi trả, đối với nợ ngắn hạn, thời gian chi trả là dưới một năm, còn đối với dài hạn, thì thời gian chi trả từ một năm trở lên. Quy mô nợ càng lớn thì rủi ro không có khả năng chi trả nợ càng cao, rủi ro phá sản cũng lớn theo và ngược lại. Nếu mục tiêu của nhà quản trị là tạo ra một công ty có giá trị càng cao càng tốt thì công ty nên quyết định một tỷ lệ nợ vốn cổ phần và làm cho tổng giá trị của chiếc bánh càng lớn càng có ý nghĩa hơn (do vậy, cấu trúc vốn có mối liên hệ mật thiết đến giá trị của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có cấu trúc vốn hợp lý sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp.
Giá trị của doanh nghiệp không chỉ là giá trị thực tế của sổ sách mà còn có giá trị kỳ vọng của doanh nghiệp trong tương lai. Một cấu trúc vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần) trong công ty cổ phần không có thời gian đáo hạn vì các chủ đầu tư sẽ không có thỏa thuận thời gian trả vốn đầu tư cho họ. Cấu trúc vốn hợp lý sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp và ngược lại sẽ làm giảm giá trị của doanh nghiệp vì sự thay đổi trong cấu trúc vốn chỉ làm tăng lợi ích của chủ sở hữu (cổ đông trong công ty cổ phần) khi và chỉ khi giá trị của doanh nghiệp tăng lên. Vì thế, giám đốc tài chính sẽ chọn lựa cấu trúc vốn mà họ tin rằng họ sẽ tối thiểu hóa chi phí, tối thiểu hóa rủi ro để giá trị doanh nghiệp cao nhất.
Đây chính là cấu trúc vốn tối ưu.2 Sự cần thiết phải nghiên cứu cấu trúc vốn. Nghiên cứu cấu trúc vốn chính là nhiệm vụ của các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp. Một cấu trúc vốn tối ưu luôn nhắm đến tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, nhằm tối đa hóa giá trị cổ phần của công ty, tối đa hóa của cải của cổ đông trong công ty. Phạm Thị Ngọc Hạnh Khóa 15 123doc Luận văn tốt nghiệp -3- Hình 1.2 Sơ đồ biểu diễn đòn bẩy tài chính Thu nhập cổ phiếu (EPS) Có nợ Không nợ Lợi ích khi có nợ Điểm hòa Bất lợi khi vốn có nợ Thu nhập trước lãi vay Tại điểm hòa vốn EBI = 800$, EPS=2$, dù có đòn bẩy hay không có đòn bẩy tài chính thì kết quả vẫn như nhau, khi lãi trước lãi vay EBI < 800$, EPS lớn hơn đối với trường hợp không có sử dụng đòn bẩy và khi lãi trước lãi vay EBI>800$, EPS lớn hơn đối với trường hợp có sử dụng đòn bẩy.
Do vậy, trong mỗi điều kiện kinh tế khác nhau doanh nghiệp cần phải xây dựng một cấu trúc vốn thích hợp. Mặt khác, nợ của doanh nghiệp bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Tùy vào tính chất của ngành mà giám đốc tài chính quyết định nên tài trợ bằng nợ ngắn hạn hay nợ dài hạn. Đối với ngành thực phẩm, đặc trưng của sản phẩm là chu kỳ kinh doanh ngắn nên doanh nghiệp thường sử dụng nợ ngắn hạn nhiều hơn nợ dài hạn.
Bên cạnh đó, tùy vào từng loại tài sản đầu tư (tài sản lưu động, tài sản cố định) mà doanh nghiệp quyết định tài trợ từ nguồn vốn nào: nợ ngắn hạn, nợ dài hạn hay vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần) Những nội dung trên lý giải được sự cần thiết của việc xây dựng một cấu trúc vốn trong doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể đạt được giá trị cao nhất cũng như để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Phạm Thị Ngọc Hạnh Khóa 15 123doc Luận văn tốt nghiệp -4- 1.2 Nguyên tắc cơ bản để xây dựng cấu trúc vốn 1.1 Nguyên tắc tương thích Trong bảng cân đối của doanh nghiệp bao giờ cũng có phần tài sản và phần nguồn vốn. Trong nguồn vốn có nợ và vốn chủ sở hữu, phần tài sản gồm: tài sản lưu động và tài sản cố định. Một cấu trúc vốn tối ưu luôn được xây dựng trên cơ sở tương thích giữa tài sản và nguồn vốn.
Nguồn vốn vay ngắn hạn thì được tài trợ để thanh toán tài sản lưu động như thanh toán tiền lương nhân viên, mua nguyên vật liệu cho sản xuất. Ngược lại, nguồn vốn vay dài hạn và vốn chủ sở hữu sẽ được tài trợ để mua trang thiết bị, tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng mà gọi chung là tài sản cố định của công ty. Nguyên tắc tương thích còn thể hiện trong cấu trúc vốn của từng ngành nghề kinh doanh. Đối với ngành nghề kinh doanh có chu kỳ sống ngắn, vòng quay sản phẩm nhanh được tài trợ nhiều bằng vốn vay ngắn hạn, còn đối với ngành nghề có chu kỳ kinh doanh dài được tài trợ bằng nợ dài hạn và vốn chủ sỡ hữu.2 Nguyên tắc cân bằng tài chính Nguyên tắc này được xác định bởi mối tương quan giữa phần vốn dài hạn dùng để tài trợ cho nợ ngắn hạn, phần vốn này được gọi là vốn luân chuyển Vốn luân chuyển = (vốn chủ sở hữu + nợ dài hạn) – tài sản dài hạn * Nếu nguồn vốn dài hạn > tài sản dài hạn thì vốn luân chuyển dương.
Điều này có nghĩa là một phần tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn. * Nếu nguồn vốn dài hạn = tài sản dài hạn thì có nghĩa là vốn luân chuyển bằng 0, nguyên tắc cân bằng tài chính vẫn được duy trì. Tuy vậy, nhà quản trị cũng phải xem xét lại khả năng biến đổi của một trong ba nhân tố trên mà có thể làm cho vốn luân chuyển dương. * Nếu nguồn vốn dài hạn < tài sản dài hạn thì vốn luân chuyển âm và nguyên tắc cân bằng tài chính bị phá vỡ.
Khi đó, một phần tài sản dài hạn được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn. Khi vốn ngắn hạn phải đáo hạn thì doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn tài trợ mới, và nếu các nguồn tài trợ cứ liên tục là nguồn tài trợ ngắn hạn thì rủi ro tài chính rất cao. Do vậy, doanh nghiệp phải tôn trọng nguyên tắc cân bằng tài chính khi Phạm Thị Ngọc Hạnh Khóa 15 123doc Luận văn tốt nghiệp -5- hoạch định cấu trúc vốn để tránh phải gặp khó khăn về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh.3 Nguyên tắc kiểm soát Chủ sở hữu vốn luôn muốn nắm quyền kiểm soát hoạt động của các công ty. Đối với công ty nhà nước thì quyền kiểm soát thuộc nhà nước.
Đối với công ty tư nhân, quyền kiểm soát là của người chủ doanh nghiệp, đối với công ty cổ phần thì quyền kiểm soát là hội đồng quản trị, hội đồng quản trị bao gồm các cổ đông lớn của công ty và cổ đông lớn nhất sẽ trở thành chủ tịch hội đồng quản trị. Nguyên tắc kiểm soát ở các chủ sở hữu là họ không muốn chia sẻ quyền lực kiểm soát cho ai khác nên để đảm bảo quyền kiểm soát của họ thì họ phải luôn góp vốn tăng thêm khi công ty mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, điều này khó mà thực hiện được trong tình hình kinh tế khó khăn khó mà có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn bằng nguồn vốn cổ phần. Do vậy, đối với công ty cồ phần, khi qui định cấu trúc vốn như thế nào, hội đồng quản trị luôn suy nghĩ đến quyền kiểm soát công ty.
Khi công ty được tài trợ bằng nợ vay, quyền kiểm soát các thành viên trong Hội đồng quản trị sẽ không thay đổi, chủ nợ không có quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu không trả nợ đúng hạn theo quy định thì doanh nghiệp sẽ bị các chủ nợ tịch biên tài sản và nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng như phá sản có thể xảy ra.4 Nguyên tắc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thông qua đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Các giám đốc tài chính khi lựa chọn cấu trúc vốn luôn xem xét kết hợp hài hòa giữa lợi nhuận và rủi ro, nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp và tối đa hóa giá cổ phiếu của công ty. Khi sử dụng nợ vay càng nhiều công ty sẽ đạt được lợi ích từ tấm chắn thuế và từ đó lợi nhuận của công ty gia tăng. Tuy vậy, sử dụng gia tăng đòn bẩy tài chính dẫn đến rủi ro khả năng thanh toán cùng rủi ro phá sản cũng gia tăng.
Khi đó, các nhà đầu tư cũng lo sợ rủi ro phát sinh, họ ấn định mức giá cổ phiếu trên thị trường giảm đi.5 Nguyên tắc sử dụng chính sách tài trợ linh hoạt Chính sách tài trợ linh hoạt là chính sách điều chỉnh vốn tăng hay giảm theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp.