CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁI BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1. Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu 1. Khái niệm bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu. Ngành bảo hiểm trên thế giới đã có bề dày lịch sử hàng trăm năm.
Có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm. Theo Dennis Kessler “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”. Còn theo Monique Gaullier thì “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.” Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.” Về mặt bản chất, bảo hiểm chính là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu.
Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers). Hợp đồng bảo hiểm đầu tiên trên thế giới được ghi nhận lại là hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trên biển Địa Trung Hải tại cảng Génes – Italy vào năm 1347. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng sự ra đời của bảo hiểm hàng hải chính là nét bút đầu tiên cho lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm trên thế giới. Ban đầu, khái niệm bảo hiểm hàng hải chỉ bao gồm việc bảo hiểm cho các đối tượng là thân tàu biển và hàng hóa vận chuyển trên biển.
Các rủi ro được bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên cũng chỉ bao gồm các hiểm họa của biển (perils of the sea) như giông, bão…. Tuy nhiên theo sự phát triển của giao lưu thương mại quốc tế thì nhu cầu của người được bảo hiểm cũng thay đổi dẫn đến sự hình thành và phát triển bảo hiểm hàng hải như hiện nay. 7 Bảo hiểm hàng hải không chỉ bảo hiểm cho các tàu biển mà còn bảo hiểm cho các hoạt động hàng hải. Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam thì hoạt động hàng hải được hiểu là hoạt động có liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào các mục đích kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hóa, thể thao, quân sự và công vụ nhà nước.
Bảo hiểm hàng hải bao gồm ba nghiệp vụ bảo hiểm chính, đó là Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, Bảo hiểm thân tàu và Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển (P&I). Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển bao gồm cả Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế và Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển giữa các cảng biển Việt Nam (bao gồm cả các chặng đường thủy nội địa và các chặng trong phạm vi lãnh hải của Việt Nam). Thực chất bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế chính là Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển. Các loại hình bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu.
Mỗi quốc gia đều có một thế mạnh riêng về năng lực sản xuất và khi kinh tế ngày một phát triển, đời sống con người ngày một nâng cao thì quá trình giao thương xuất nhập khẩu cũng ngày một phát triển mạnh mẽ. Tùy vào điều kiện địa lý và đặc thù hàng hóa, người ta có thể vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng các phương thức khác nhau, chia làm ba nhóm chính là đường biển, đường bộ và đường hàng không tương đương với ba loại hình bảo hiểm chính là bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển, bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường bộ và Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường hàng không. Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển là loại hình bảo hiểm cho những hàng hóa chuyên chở bằng các tàu chở hàng chuyên dụng. Phần lớn hàng hóa trên thế giới đều được chuyên chở thông qua phương thức này.
Phương thức vận chuyển này thích hợp với những hàng hóa có khối lượng lớn, dễ bảo quản, thời gian vận chuyển không cấp bách. Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường hàng không là loại hình bảo hiểm cho những hàng hóa chuyên chở bằng máy bay. Đây là một trong những phương thức vận tải quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế. Ưu điểm của chúng là thời gian vận 8 chuyển nhanh ở cự ly xa, tần suất liên tục.
Phương thức vận chuyển này thích hợp với những loại hàng hóa cần gấp, hàng hóa khó bảo quản hay những loại hàng hóa yêu cầu cao về độ an toàn; tuy nhiên lại chỉ phù hợp với những hàng hóa có kích thước, khối lượng từ nhỏ đến trung bình, chi phí vận chuyển cao. Bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường bộ là loại hình bảo hiểm cho những hàng hóa chuyên chở bằng các phương tiện đường bộ như ô tô, tàu hỏa. Phương thức vận chuyển này thích hợp với những hàng hóa khối lượng nhỏ, quãng đường gần, những loại hàng hóa không yêu cầu quá cao về mặt bảo quản hay mức độ an toàn, chi phí vận chuyển thấp. Tuy nhiên trong bài luận văn này tôi xin đi chuyên sâu vào loại hình bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển do vận chuyển bằng đường biển là phương thức vận chuyển phổ biến nhất thế giới, chiểm đến 80% tổng khối lượng chuyên chở quốc tế của tất cả các hình thức vận chuyển.3 Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển: 1.
Rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa XNK bằng đường biển Trong quá trình vận chuyển bằng đường biển, hàng hóa có thể phải chịu tác động từ nhiều loại rủi ro. Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, các rủi ro của bảo hiểm hàng hóa XNK bằng đường biển bao gồm các loại sau: - Thiên tai (Acts of God): Hiện tượng biển động, bão, gió lốc, sét đánh, động đất, núi lửa… là những hiện tượng xảy ra một cách tự nhiên mà ngay chính con người không thể chi phối được. - Tai họa của biển (Perils of the sea): Loại trừ những rủi ro về thiên tai, những tai nạn xảy ra đối với con tàu của bạn khi ở ngoài biển như mắc cạn, cháy nổ, đâm va nhau, hay va phải đá ngầm, đâm phải những vật thể khác, tàu của bạn bị lật úp, mất tích được xem là tai họa của biển. - Các tai nạn bất ngờ khác: Những thiệt hại xảy ra một cách ngẫu nhiên và bất ngờ ở bên ngoài không nằm trong những tai họa của biển được nêu trên.
Chúng có thể xảy ra trên biển hoặc trên bộ, trên không và ngay cả trong quá trình vận chuyển, 9 xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, lưu bãi, hấp hơi, lây bẩn hay lây hại… đều được xem là các rủi ro phụ (extraneous risk) - Rủi ro do các hiện tượng chính trị, xã hội gây nên: Các loại rủi ro như chiến tranh, nội chiến, bạo động và các hành động thù địch khác, tàu và hàng bị tịch thu và bắt giữ; các rủi ro do đình công và các hành động khủng bố hoặc do những người khủng bố gây ra. Căn cứ vào vào nghiệp vụ bảo hiểm, các rủi ro của bảo hiểm hàng hóa bao gồm các loại sau: a. Rủi ro thông thường: là những rủi ro mà khi gặp phải hầu hết đều được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm gốc. Hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thường phải chịu các rủi ro thông thường như: mắc cạn, chìm đắm, cháy, đâm va, tàu mất tích, ném xuống biển….
Và những rủi ro này lại được chia thành hai nhóm là rủi ro chính, bao gồm mắc cạn, đắm, cháy, đâm va và các rủi ro thông thường khác. Sở dĩ chia như vậy vì các rủi ro chính trên là những rủi ro thường gặp của biến và chúng thường gây ra những tổn thất lớn cho chủ hàng cũng như chủ tàu. Các rủi ro chính bao gồm những rủi ro như sau: - Mắc cạn: Đây là hiện tượng đáy tàu chạm sát với đáy biển hoặc chướng ngại vật do một sự cố bất thường gây ra làm cho tàu không chạy được nữa khiến hành trình của tàu bị gián đoạn hoặc thậm chí là chấm dứt. Cần phân biệt mắc cạn với nằm cạn.
Mắc cạn là một rủi ro không lường trước được có thể do bão, thời tiết xấu, hiện tượng sa bồi…. trong khi nằm cạn là những hiện tượng có thể lường trước được (do thủy triều hoặc con nước định kì). Phần lớn các nguyên nhân mắc cạn đều thuộc phạm vi bảo hiểm trừ khi rủi ro xảy ra do một hành động cố ý hoặc không tuân thủ pháp luật. Ngoài ra trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ bồi thường cho những tổn thất trực tiếp như hỏng hàng do ước nước, va đập làm cong, vênh nứt vỡ hàng hóa…, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất gián tiếp nhưng chậm trễ, mất cơ hội bán hàng dẫn đến phải hạ giá hàng hóa hay tăng lãi vay phải trả cho ngân hàng do hàng tồn… - Đắm tàu: là hiện tượng toàn bộ phần nổi của con tàu bị chìm xuống nước do một sự cố bất ngờ xảy ra khi tàu đang di chuyển trên biển hoặc đang neo đậu.
Đắm 10 tàu có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như bão lốc, sóng thần, đâm va, bom mìn, ngư lôi, đạn pháo…. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm cho những hành động cố ý hoặc không tuân thủ pháp luật. Việc tàu đắm do ảnh hưởng của chiến tranh hoặc đình công bạo loạn chỉ được bảo hiểm nếu có thỏa thuận riêng. Trong trường hợp tàu bập bềnh do sóng gió mạnh nhưng vẫn chạy được hoặc nhờ phương tiện lai dắt tiếp tục hành trình được thì không được coi là đắm.
Đắm tàu thường gây những tổn thất to lớn về cả người và tài sản nên thông thường người bảo hiểm thường bồi thường tổn thất toàn bộ với những lô hàng chở trên những còn tàu bị đắm. Sau khi bồi thường người bảo hiểm có quyền nhận hoặc từ chối nhận quyền sở hữu lô hàng. Nếu chủ hàng muốn trục vớt hàng hóa để chở về thì người bảo hiểm sẽ bồi thường cho chủ hàng chi phí trục vớt, chi phí vận chuyển tiếp trong phạm vi số tiền bảo hiểm.