ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở hầu hết các nước trên thế giới và ở Việt Nam. Trung bình một năm trên thế giới có 17,3 triệu người chết do các bệnh lý về tim mạch và con số này được dự đoán sẽ tăng lên 23,6 triệu người vào năm 2030. Điều đáng lo ngại là tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch vẫn tiếp tục gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển có thu nhập trung bình - thấp trong đó có Việt Nam [4], [50], [51]. Rối loạn lipid máu (RLLPM) được xem là một trong những yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch-gây nhiều biến chứng như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy mạch vành [4],[5],[18].
Nhiều lợi ích lâm sàng đã chỉ ra việc phòng ngừa và điều trị hiệu quả rối loạn lipid máu có thể làm hạn chế sự phát triển của bệnh xơ vữa động mạch và ngăn ngừa được các biến chứng về tim mạch [10],[32]. Y học hiện đại đã áp dụng nhiều biện pháp để kiểm soát và điều trị RLLPM như thay đổi lối sống, chế độ ăn uống sinh hoạt điều độ, rèn luyện thể lực và dùng thuốc. Các nhóm thuốc có tác dụng điều trị như statin, fibrat, acid nicotinic và các chất gắn acid mật. Các thuốc trên đều đạt hiệu quả điều trị tốt nhưng có nhiều tác dụng không mong muốn như gây tăng men gan, viêm cơ, tiêu cơ vân, rối loạn tiêu hóa [2],[18],[33].
Một trong những xu hướng hiện nay trong điều trị là hướng về các thuốc có nguồn gốc tự nhiên, vừa mang lại hiệu quả điều trị, vừa hạn chế tác dụng không mong muốn cho người bệnh. Bìm ba răng (Merremia tridentata L. Trữ lượng BBR ở Việt Nam rất lớn, phân bố rãi khắp các tỉnh, nhóm nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng hạ đường huyết trên chuột của BBR. Trong quá trình nghiên cứu đã phát hiện cao BBR làm giảm một số chỉ số lipid máu trên chuột [46].
2 Vì vậy, đề tài: “Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao toàn phần bìm ba răng (Merremia tridentata L.) trên mô hình chuột gây tăng lipid máu bằng tyloxapol” được thực hiện với những mục tiêu như sau: - Chiết xuất và kiểm tra chất lượng cao Bìm ba răng; - Đánh giá tính khả dụng của mô hình chuột tăng lipid máu cấp tính bằng tyloxapol; - Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao Bìm ba răng trên mô hình chuột gây tăng lipid máu cấp tính bằng tyloxapol; - Đánh giá tính khả dụng của mô hình chuột tăng lipid máu bán cấp bằng tyloxapol; - Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao Bìm ba răng trên mô hình chuột gây tăng lipid máu bán cấp bằng tyloxapol. TỔNG QUAN VỀ CÂY BÌM BA RĂNG 2. Mô tả thực vật Tên Việt Nam: Bìm ba răng, Dây lưỡi đòng (miền Nam), Thuyền chài, Phong dời (miền Trung). Tên khoa học: Merremia tridentata L.
Theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan, cây BBR có vị trí sắp xếp như sau: Giới thực vật (Plantae) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa môi (Lamiidae) Bộ Cà (Solanales) Họ Bìm bìm (Convolvulaceae) Chi Merremia Loài Merremia tridentata Hình 2. Vị trí phân loại loài của Merremia tridentata L. 4 Trong từ điển cây thuốc Việt Nam xuất bản năm 2018, BBR được TS. Võ Văn Chi mô tả: là cây leo thân thảo, không quấn; thân mịn, không có lông; lá hẹp, gốc hình tim và có 2 tai ở hai bên, mỗi tai có 3 răng; cụm hoa gồm 1-2 hoa; hoa có màu vàng sữa, với trung tâm đỏ, lá đài bằng nhau, nhị đính gần gốc; quả nang cao 7 mm; hạt không có lông [19].
Phân bố, sinh thái BBR là loài liên nhiệt đới, thường có ở nhiều nơi vùng đồng bằng từ vùng thấp đến độ cao 1000 m. Ở nước ta, BBR có mặt từ Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh [19]. Thành phần hóa học BBR được báo cáo có chứa một số flavonoid quinon, acids phenolic, tanin, saponin, p- hydroxy benzoic, acid vanillic, và acid syringic [26]. Theo một nghiên cứu khác cho thấy sự hiện diện của ergosin phân lập từ hạt và các pyrolidin alkaloid như hygrin và nicotin phân lập từ rễ và phần trên mặt đất của BBR [28].
5 Một nghiên cứu, đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L-rhamnosid (quercitrin) và apigenin-7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7- O-D- glycosid (cynarosid) [12]. Từ đó có thể thấy flavonoid là nhóm chất chính hiện diện trong cây BBR. Luteolin-7-O-D-glycosid (1) và quercitin-3-O-L-rhamnosid (2) được phân lập từ BBR. Luteolin (3) và (4) apigenin được phân lập từ BBR.
Apigenin-7-O-β-D-glucosid (5) được phân lập từ BBR 2. Tác dụng giảm đau, kháng viêm Tác dụng kháng viêm được nghiên cứu bằng mô hình gây phù chân cấp trên chuột nhắt bởi histamine. Kết quả cho thấy dịch chiết acetone của rễ M. tridentata cho tác dụng giảm đau và kháng viêm tốt nhất [30].
Các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg có sự ức chế tương ứng là 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc đối chứng indomethacin là 48,5%. Trong mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế các yếu tố gây viêm tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng indomethacin (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M. tridentata đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [29].
Tác dụng chống oxy hóa, chống loét, chữa lành vết thương Tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR. Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ. Thử tác dụng chống oxy hóa trên mô hình DPPH và mô hình kiểm tra ABTS+. Kết quả cho thấy dịch chiết ethyl acetate cho tác dụng chống oxy hóa rất tốt [43].
7 Thử tác dụng chống loét trên chuột bị gây loét, nồng độ enzyme chống oxy hóa của superoxide effutase, catalase và glutathione trong các mô dạ dày đã tăng đáng kể, cho thấy rễ cây BBR có khả năng ngăn ngừa loét dạ dày gây ra bởi ethanol [42]. BBR có khả năng phục hồi vết mổ, vết cắt và vùng tổn thương trên chuột nhắt trắng, trên mô hình có vết mổ dài 6 cm với bề dày vết thương là 1,5 cm đã hình thành nên một tổn thương có diện tích là 500 mm2 [20]. Tác dụng hạ đường huyết Dùng dịch chiết BBR đường uống ở liều 50 mg/kg, 100 mg/kg và 150 mg/kg cho chuột bình thường, chuột dung nạp glucose và chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin, mô hình sử dụng glibenclamid (10 mg/kg) làm thuốc đối chứng. Kết quả cho thấy nồng độ glucose huyết giảm đáng kể ở các lô chuột trên (glucose huyết giảm nhiều hơn ở liều 100 mg/kg và liều 150 mg/kg); có sự gia tăng đáng kể nồng độ insulin trong huyết thanh, trọng lượng cơ thể tăng và hàm lượng glycogen chứa trong gan và cơ tăng; trong khi đó, ở mô hình chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin có sự giảm đáng kể nồng độ triglycerid huyết và cholesterol toàn phần [23].
Tình hình nghiên cứu trong nước Năm 2019, một nhóm nghiên cứu đã tiến hành chiết tách, xác định cấu trúc và định lượng một số flavonoid có trong cây BBR. Kết quả đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L- rhamnosid (quercitrin) và apigenin-7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7-O-D-glycosid (cynarosid) [12]. Năm 2020, một nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cao BBR trên mô hình chuột gây tăng đường huyết bằng alloxan. Kết quả tác động hạ đường huyết trên cao nước và cồn từ rễ và thân BBR cho thấy ở liều 100 mg/kg cao T/N và T/C cây BBR cho tác dụng hạ đường huyết, liều 50 mg/kg cao T/N BBR cũng cho tác dụng hạ đường huyết nhưng không tốt bằng liều 100 mg/kg [11].
Năm 2022, nhóm nghiên cứu về hoạt động chống đái tháo đường in vitro và in vivo, phân lập flavonoid và kết nối phân tử in silico của chiết xuất thân cây Merremia tridentata L. 8 Kết quả tất cả các chiết xuất không ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể của chuột thử nghiệm. Chiết xuất ethanol từ rễ liều 100 mg/kg và phần giàu flavonoid liều 50 và 75 mg/kg thể hiện tác dụng hạ đường huyết mạnh ở chuột mắc bệnh đái tháo đường do alloxan so với các thuốc tham chiếu, glibenclamid và metformin. Nghiên cứu Docking cho thấy cynarosid và cosmosiin là những hợp chất mong muốn nhất để có tác dụng hạ đường huyết trên nhiều mục tiêu chống đái tháo đường như α-amylase, α-glucosidase, IGF1R, SUR, GP và GLP1.
Quercitrin là một hợp chất tiềm năng để kích hoạt PPAR-γ. Chiết xuất ethanol từ rễ và phần giàu flavonoid thể hiện hoạt tính ức chế α-amylase và α-glucosidase tốt so với thuốc tham chiếu acarbose [46]. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Năm 2009, Kamalutheen và cộng sự đã tiến hành chiết xuất bột dược liệu BBR với petroleum ether, benzen, cloroform, ethanol và nước. Thử tác dụng kháng viêm của các dịch chiết với 2 mô hình là gây phù bởi carrageenan trên chuột và gây viêm khớp bởi chất phụ trợ của Freund.
Indomethacin (10 mg/kg) được sử dụng làm thuốc đối chứng. Kết quả các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg có sự ức chế tương ứng là 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc đối chứng là 48,5%. Ở mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M.
tridentata đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [29]. Năm 2010, Kandhasamy Sowndhararajan, Jince Mary Joseph, Karuppusamy Arunachalam, Sellamuthu Manian, tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR. Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ [43]. và cộng sự sử dụng bột rễ của BBR ngâm với nước cất trong 48 giờ ở nhiệt độ phòng, sau đó lọc và lấy dịch.