Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao bìm ba răng (Merremia tridentata L.) trên mô hình chuột

Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao bìm ba răng trên mô hình chuột tăng lipid máu bằng tyloxapol, mang lại thông tin quý giá cho nghiên cứu.

Trường đại học

Trường Đại Học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Dược sĩ đại học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÂY BÌM BA RĂNG

1.1. Mô tả thực vật

1.2. Phân bố, sinh thái

1.3. Thành phần hóa học

1.4. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.5. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.6. ĐẠI CƯƠNG VỀ LIPID

1.6.1. Đặc tính và cấu tạo lipid

1.6.2. Thành phần và cấu trúc của lipoprotein

1.6.3. Phân loại lipoprotein

1.7. RỐI LOẠN LIPID MÁU

1.7.1. Triệu chứng và chẩn đoán

1.8. MÔ HÌNH RỐI LOẠN LIPID MÁU TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM

1.8.1. Mô hình tăng lipid máu ngoại sinh bằng chế độ dinh dưỡng

1.8.2. Mô hình tăng lipid máu bằng chất tẩy rửa và những chất hóa học

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. Động vật thí nghiệm

3.3. HÓA CHẤT, TRANG THIẾT BỊ

3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1. Chiết xuất và kiểm tra chất lượng cao Bìm ba răng

3.4.2. Phương pháp kiểm nghiệm cao

3.4.3. Phương pháp khảo sát tác dụng hạ lipid cấp của cao BBR

3.4.4. Phương pháp khảo sát tác dụng hạ lipid bán cấp của cao BBR

3.4.5. Phương pháp xác định chỉ số lipid máu

3.4.6. Xử lý số liệu thống kê thực nghiệm

4. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

4.1. Chiết xuất và kiểm tra chất lượng cao Bìm ba răng

4.2. Kết quả khảo sát tác dụng hạ lipid cấp của cao BBR

4.3. Kết quả khảo sát tác dụng hạ lipid bán cấp của cao BBR

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác dụng hạ lipid máu của cao bìm ba răng

Cao bìm ba răng (Merremia tridentata L.) đã được nghiên cứu với nhiều tác dụng dược lý, trong đó có tác dụng hạ lipid máu. Rối loạn lipid máu là một trong những nguyên nhân chính gây ra các bệnh tim mạch. Việc tìm kiếm các phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn từ thiên nhiên đang trở thành xu hướng. Nghiên cứu này nhằm khảo sát tác dụng của cao bìm ba răng trên mô hình chuột gây tăng lipid máu bằng tyloxapol.

1.1. Giới thiệu về cao bìm ba răng và Merremia tridentata

Cao bìm ba răng được chiết xuất từ cây Merremia tridentata, một loại thảo dược phổ biến ở Việt Nam. Cây này có nhiều thành phần hóa học có lợi cho sức khỏe, bao gồm flavonoid và các acid phenolic. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cao bìm ba răng có khả năng hạ cholesterol và triglyceride trong máu.

1.2. Tình hình nghiên cứu về tác dụng hạ lipid máu

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng cao bìm ba răng có tác dụng hạ lipid máu hiệu quả. Các nghiên cứu trước đó đã chứng minh rằng cao này có thể làm giảm nồng độ cholesterol và triglyceride trong máu của chuột thí nghiệm. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc điều trị rối loạn lipid máu.

II. Vấn đề rối loạn lipid máu và thách thức trong điều trị

Rối loạn lipid máu (RLLPM) là một trong những yếu tố nguy cơ chính gây ra bệnh tim mạch. Việc điều trị RLLPM thường gặp nhiều thách thức do các loại thuốc hiện có có thể gây ra nhiều tác dụng phụ không mong muốn. Do đó, việc tìm kiếm các phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả từ thiên nhiên là rất cần thiết.

2.1. Nguyên nhân và triệu chứng của rối loạn lipid máu

RLLPM có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm chế độ ăn uống không hợp lý, di truyền và lối sống ít vận động. Triệu chứng của RLLPM thường không rõ ràng, nhưng có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như bệnh tim mạch và đột quỵ.

2.2. Thách thức trong việc điều trị RLLPM

Các phương pháp điều trị hiện tại như statin và fibrat có thể hiệu quả nhưng thường đi kèm với nhiều tác dụng phụ. Điều này khiến cho bệnh nhân gặp khó khăn trong việc tuân thủ điều trị. Do đó, cần có các giải pháp thay thế an toàn hơn từ thiên nhiên.

III. Phương pháp nghiên cứu tác dụng hạ lipid máu của cao bìm ba răng

Nghiên cứu này sử dụng mô hình chuột gây tăng lipid máu bằng tyloxapol để khảo sát tác dụng hạ lipid của cao bìm ba răng. Phương pháp chiết xuất và kiểm tra chất lượng cao cũng được thực hiện để đảm bảo tính hiệu quả của sản phẩm.

3.1. Chiết xuất và kiểm tra chất lượng cao bìm ba răng

Cao bìm ba răng được chiết xuất bằng phương pháp chiết nóng với nước. Chất lượng cao được kiểm tra qua các chỉ tiêu như độ ẩm, màu sắc và hàm lượng các hoạt chất chính. Kết quả cho thấy cao bìm ba răng đạt tiêu chuẩn chất lượng mong muốn.

3.2. Thiết kế thí nghiệm trên chuột

Chuột nhắt trắng được chia thành các nhóm khác nhau để khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao bìm ba răng. Các nhóm chuột được tiêm tyloxapol để gây tăng lipid máu và sau đó được cho uống cao bìm ba răng với các liều lượng khác nhau.

IV. Kết quả nghiên cứu tác dụng hạ lipid máu của cao bìm ba răng

Kết quả nghiên cứu cho thấy cao bìm ba răng có tác dụng hạ lipid máu rõ rệt. Nồng độ cholesterol và triglyceride trong máu của chuột giảm đáng kể sau khi điều trị bằng cao bìm ba răng. Điều này chứng tỏ tiềm năng của cao bìm ba răng trong việc điều trị rối loạn lipid máu.

4.1. Kết quả tác dụng hạ lipid cấp tính

Ở nhóm chuột được điều trị bằng cao bìm ba răng liều 100 mg/kg, nồng độ cholesterol toàn phần giảm 34,1% và triglyceride giảm 47,8% sau 24 giờ. Ở nhóm chuột điều trị liều 200 mg/kg, nồng độ cholesterol giảm 48,97% và triglyceride giảm 50,88%.

4.2. Kết quả tác dụng hạ lipid bán cấp

Sau 2 tuần điều trị, nồng độ cholesterol và triglyceride của chuột được điều trị bằng cao bìm ba răng cũng giảm đáng kể. Điều này cho thấy hiệu quả lâu dài của cao bìm ba răng trong việc điều chỉnh lipid máu.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu về cao bìm ba răng

Nghiên cứu này đã chứng minh tác dụng hạ lipid máu của cao bìm ba răng trên mô hình chuột. Kết quả cho thấy cao bìm ba răng có thể là một giải pháp tiềm năng trong điều trị rối loạn lipid máu. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định cơ chế tác động và hiệu quả lâm sàng của cao bìm ba răng.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu về cao bìm ba răng

Nghiên cứu về cao bìm ba răng không chỉ giúp mở rộng hiểu biết về tác dụng dược lý của thảo dược này mà còn góp phần vào việc phát triển các phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho rối loạn lipid máu.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu về cơ chế tác động của cao bìm ba răng và mở rộng khảo sát trên các mô hình động vật khác. Điều này sẽ giúp xác định rõ hơn về hiệu quả và an toàn của cao bìm ba răng trong điều trị rối loạn lipid máu.

24/07/2025
Khảo sát tác dụng hạ lipid máu cấp và bán cấp của cao toàn phần bìm ba răng merremia tridentata l trên mô hình chuột gây tăng lipid máu bằng tyloxapol

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở hầu hết các nước trên thế giới và ở Việt Nam. Trung bình một năm trên thế giới có 17,3 triệu người chết do các bệnh lý về tim mạch và con số này được dự đoán sẽ tăng lên 23,6 triệu người vào năm 2030. Điều đáng lo ngại là tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch vẫn tiếp tục gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển có thu nhập trung bình - thấp trong đó có Việt Nam [4], [50], [51]. Rối loạn lipid máu (RLLPM) được xem là một trong những yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch-gây nhiều biến chứng như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy mạch vành [4],[5],[18].

Nhiều lợi ích lâm sàng đã chỉ ra việc phòng ngừa và điều trị hiệu quả rối loạn lipid máu có thể làm hạn chế sự phát triển của bệnh xơ vữa động mạch và ngăn ngừa được các biến chứng về tim mạch [10],[32]. Y học hiện đại đã áp dụng nhiều biện pháp để kiểm soát và điều trị RLLPM như thay đổi lối sống, chế độ ăn uống sinh hoạt điều độ, rèn luyện thể lực và dùng thuốc. Các nhóm thuốc có tác dụng điều trị như statin, fibrat, acid nicotinic và các chất gắn acid mật. Các thuốc trên đều đạt hiệu quả điều trị tốt nhưng có nhiều tác dụng không mong muốn như gây tăng men gan, viêm cơ, tiêu cơ vân, rối loạn tiêu hóa [2],[18],[33].

Một trong những xu hướng hiện nay trong điều trị là hướng về các thuốc có nguồn gốc tự nhiên, vừa mang lại hiệu quả điều trị, vừa hạn chế tác dụng không mong muốn cho người bệnh. Bìm ba răng (Merremia tridentata L. Trữ lượng BBR ở Việt Nam rất lớn, phân bố rãi khắp các tỉnh, nhóm nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng hạ đường huyết trên chuột của BBR. Trong quá trình nghiên cứu đã phát hiện cao BBR làm giảm một số chỉ số lipid máu trên chuột [46].

2 Vì vậy, đề tài: “Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao toàn phần bìm ba răng (Merremia tridentata L.) trên mô hình chuột gây tăng lipid máu bằng tyloxapol” được thực hiện với những mục tiêu như sau: - Chiết xuất và kiểm tra chất lượng cao Bìm ba răng; - Đánh giá tính khả dụng của mô hình chuột tăng lipid máu cấp tính bằng tyloxapol; - Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao Bìm ba răng trên mô hình chuột gây tăng lipid máu cấp tính bằng tyloxapol; - Đánh giá tính khả dụng của mô hình chuột tăng lipid máu bán cấp bằng tyloxapol; - Khảo sát tác dụng hạ lipid máu của cao Bìm ba răng trên mô hình chuột gây tăng lipid máu bán cấp bằng tyloxapol. TỔNG QUAN VỀ CÂY BÌM BA RĂNG 2. Mô tả thực vật Tên Việt Nam: Bìm ba răng, Dây lưỡi đòng (miền Nam), Thuyền chài, Phong dời (miền Trung). Tên khoa học: Merremia tridentata L.

Theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan, cây BBR có vị trí sắp xếp như sau: Giới thực vật (Plantae) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa môi (Lamiidae) Bộ Cà (Solanales) Họ Bìm bìm (Convolvulaceae) Chi Merremia Loài Merremia tridentata Hình 2. Vị trí phân loại loài của Merremia tridentata L. 4 Trong từ điển cây thuốc Việt Nam xuất bản năm 2018, BBR được TS. Võ Văn Chi mô tả: là cây leo thân thảo, không quấn; thân mịn, không có lông; lá hẹp, gốc hình tim và có 2 tai ở hai bên, mỗi tai có 3 răng; cụm hoa gồm 1-2 hoa; hoa có màu vàng sữa, với trung tâm đỏ, lá đài bằng nhau, nhị đính gần gốc; quả nang cao 7 mm; hạt không có lông [19].

Phân bố, sinh thái BBR là loài liên nhiệt đới, thường có ở nhiều nơi vùng đồng bằng từ vùng thấp đến độ cao 1000 m. Ở nước ta, BBR có mặt từ Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh [19]. Thành phần hóa học BBR được báo cáo có chứa một số flavonoid quinon, acids phenolic, tanin, saponin, p- hydroxy benzoic, acid vanillic, và acid syringic [26]. Theo một nghiên cứu khác cho thấy sự hiện diện của ergosin phân lập từ hạt và các pyrolidin alkaloid như hygrin và nicotin phân lập từ rễ và phần trên mặt đất của BBR [28].

5 Một nghiên cứu, đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L-rhamnosid (quercitrin) và apigenin-7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7- O-D- glycosid (cynarosid) [12]. Từ đó có thể thấy flavonoid là nhóm chất chính hiện diện trong cây BBR. Luteolin-7-O-D-glycosid (1) và quercitin-3-O-L-rhamnosid (2) được phân lập từ BBR. Luteolin (3) và (4) apigenin được phân lập từ BBR.

Apigenin-7-O-β-D-glucosid (5) được phân lập từ BBR 2. Tác dụng giảm đau, kháng viêm Tác dụng kháng viêm được nghiên cứu bằng mô hình gây phù chân cấp trên chuột nhắt bởi histamine. Kết quả cho thấy dịch chiết acetone của rễ M. tridentata cho tác dụng giảm đau và kháng viêm tốt nhất [30].

Các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg có sự ức chế tương ứng là 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc đối chứng indomethacin là 48,5%. Trong mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế các yếu tố gây viêm tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng indomethacin (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M. tridentata đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [29].

Tác dụng chống oxy hóa, chống loét, chữa lành vết thương Tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR. Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ. Thử tác dụng chống oxy hóa trên mô hình DPPH và mô hình kiểm tra ABTS+. Kết quả cho thấy dịch chiết ethyl acetate cho tác dụng chống oxy hóa rất tốt [43].

7 Thử tác dụng chống loét trên chuột bị gây loét, nồng độ enzyme chống oxy hóa của superoxide effutase, catalase và glutathione trong các mô dạ dày đã tăng đáng kể, cho thấy rễ cây BBR có khả năng ngăn ngừa loét dạ dày gây ra bởi ethanol [42]. BBR có khả năng phục hồi vết mổ, vết cắt và vùng tổn thương trên chuột nhắt trắng, trên mô hình có vết mổ dài 6 cm với bề dày vết thương là 1,5 cm đã hình thành nên một tổn thương có diện tích là 500 mm2 [20]. Tác dụng hạ đường huyết Dùng dịch chiết BBR đường uống ở liều 50 mg/kg, 100 mg/kg và 150 mg/kg cho chuột bình thường, chuột dung nạp glucose và chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin, mô hình sử dụng glibenclamid (10 mg/kg) làm thuốc đối chứng. Kết quả cho thấy nồng độ glucose huyết giảm đáng kể ở các lô chuột trên (glucose huyết giảm nhiều hơn ở liều 100 mg/kg và liều 150 mg/kg); có sự gia tăng đáng kể nồng độ insulin trong huyết thanh, trọng lượng cơ thể tăng và hàm lượng glycogen chứa trong gan và cơ tăng; trong khi đó, ở mô hình chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin có sự giảm đáng kể nồng độ triglycerid huyết và cholesterol toàn phần [23].

Tình hình nghiên cứu trong nước Năm 2019, một nhóm nghiên cứu đã tiến hành chiết tách, xác định cấu trúc và định lượng một số flavonoid có trong cây BBR. Kết quả đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L- rhamnosid (quercitrin) và apigenin-7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7-O-D-glycosid (cynarosid) [12]. Năm 2020, một nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cao BBR trên mô hình chuột gây tăng đường huyết bằng alloxan. Kết quả tác động hạ đường huyết trên cao nước và cồn từ rễ và thân BBR cho thấy ở liều 100 mg/kg cao T/N và T/C cây BBR cho tác dụng hạ đường huyết, liều 50 mg/kg cao T/N BBR cũng cho tác dụng hạ đường huyết nhưng không tốt bằng liều 100 mg/kg [11].

Năm 2022, nhóm nghiên cứu về hoạt động chống đái tháo đường in vitro và in vivo, phân lập flavonoid và kết nối phân tử in silico của chiết xuất thân cây Merremia tridentata L. 8 Kết quả tất cả các chiết xuất không ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể của chuột thử nghiệm. Chiết xuất ethanol từ rễ liều 100 mg/kg và phần giàu flavonoid liều 50 và 75 mg/kg thể hiện tác dụng hạ đường huyết mạnh ở chuột mắc bệnh đái tháo đường do alloxan so với các thuốc tham chiếu, glibenclamid và metformin. Nghiên cứu Docking cho thấy cynarosid và cosmosiin là những hợp chất mong muốn nhất để có tác dụng hạ đường huyết trên nhiều mục tiêu chống đái tháo đường như α-amylase, α-glucosidase, IGF1R, SUR, GP và GLP1.

Quercitrin là một hợp chất tiềm năng để kích hoạt PPAR-γ. Chiết xuất ethanol từ rễ và phần giàu flavonoid thể hiện hoạt tính ức chế α-amylase và α-glucosidase tốt so với thuốc tham chiếu acarbose [46]. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Năm 2009, Kamalutheen và cộng sự đã tiến hành chiết xuất bột dược liệu BBR với petroleum ether, benzen, cloroform, ethanol và nước. Thử tác dụng kháng viêm của các dịch chiết với 2 mô hình là gây phù bởi carrageenan trên chuột và gây viêm khớp bởi chất phụ trợ của Freund.

Indomethacin (10 mg/kg) được sử dụng làm thuốc đối chứng. Kết quả các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg có sự ức chế tương ứng là 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc đối chứng là 48,5%. Ở mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M.

tridentata đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [29]. Năm 2010, Kandhasamy Sowndhararajan, Jince Mary Joseph, Karuppusamy Arunachalam, Sellamuthu Manian, tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR. Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ [43]. và cộng sự sử dụng bột rễ của BBR ngâm với nước cất trong 48 giờ ở nhiệt độ phòng, sau đó lọc và lấy dịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ