Khảo sát tác dụng an thần và chống oxy hóa của cao chiết từ lá cây chùm ngây Moringa oleifera

Khảo sát tác dụng an thần, giải lo âu và chống oxy hóa của cao chiết lá chùm ngây Moringa oleifera Lam, mang lại nhiều lợi ích sức khỏe.

Trường đại học

Trường Đại Học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo nghiên cứu khoa học

2021

54
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÙM NGÂY MORINGA OLEIFERA

1.1. Mô tả thực vật

1.2. Phân bố, sinh thái loài Moringa oleifera Lam.

1.3. Giá trị về dinh dưỡng của cây Chùm ngây

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC

2.1. Các hợp chất flavonoid

2.2. Các hợp chất terpenoid-steroid

2.3. Các hợp chất nhóm carbamat, thiocarbamat và nitril

2.4. Các dẫn xuất của acid phenolic và các hợp chất có vòng thơm khác

2.5. Các hợp chất glucosinolat and isothiocyanat

3. CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ TÁC DỤNG DƯỢC LÝ

3.1. Tác dụng bảo vệ gan

3.2. Tác dụng kháng viêm

3.3. Tác dụng chống oxy hóa

3.4. Tác dụng tăng cường hệ miễn dịch

3.5. Tác dụng an thần

3.6. Tác dụng chống dị ứng

3.7. Tác dụng kiểu estrogen

4. CHƯƠNG 4: TƯƠNG TÁC DƯỢC ĐỘNG HỌC CỦA CHÙM NGÂY

5. CHƯƠNG 5: ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

5.2. Dược liệu nghiên cứu

5.3. Động vật thực nghiệm

5.4. Thiết bị sử dụng

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác dụng an thần và chống oxy hóa của cao chiết lá chùm ngây

Cao chiết từ lá chùm ngây (Moringa oleifera) đã được nghiên cứu rộng rãi về các tác dụng dược lý của nó. Nghiên cứu cho thấy rằng lá chùm ngây không chỉ có tác dụng an thần mà còn có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ. Những hợp chất có trong lá chùm ngây như flavonoid và polyphenol đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tế bào khỏi sự tổn thương do gốc tự do. Điều này làm cho chùm ngây trở thành một lựa chọn tiềm năng trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ sức khỏe tâm thần và thể chất.

1.1. Tác dụng an thần của cao chiết lá chùm ngây

Cao chiết từ lá chùm ngây đã được chứng minh có tác dụng an thần, giúp giảm lo âu và căng thẳng. Nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất trong lá chùm ngây có khả năng tương tác với các thụ thể thần kinh, từ đó làm giảm cảm giác lo âu và cải thiện tâm trạng.

1.2. Tác dụng chống oxy hóa của cao chiết lá chùm ngây

Cao chiết lá chùm ngây chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ tế bào khỏi sự tổn thương do gốc tự do. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt tính chống oxy hóa của chùm ngây có thể so sánh với một số loại thuốc chống oxy hóa phổ biến, mang lại lợi ích cho sức khỏe tổng thể.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tác dụng của chùm ngây

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về tác dụng của cao chiết lá chùm ngây, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định chính xác cơ chế hoạt động của các hợp chất trong lá. Việc thiếu các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn cũng là một vấn đề cần được giải quyết để khẳng định hiệu quả và độ an toàn của chùm ngây trong điều trị.

2.1. Thiếu nghiên cứu lâm sàng về chùm ngây

Nhiều nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào các thử nghiệm in vitro hoặc trên động vật, trong khi các nghiên cứu lâm sàng trên người còn hạn chế. Điều này làm giảm khả năng áp dụng thực tiễn của các kết quả nghiên cứu.

2.2. Cần xác định liều lượng hiệu quả

Một thách thức lớn khác là xác định liều lượng tối ưu cho các tác dụng an thần và chống oxy hóa của chùm ngây. Việc này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo an toàn và hiệu quả cho người sử dụng.

III. Phương pháp nghiên cứu tác dụng an thần của cao chiết lá chùm ngây

Nghiên cứu tác dụng an thần của cao chiết lá chùm ngây thường sử dụng các mô hình động vật để đánh giá hiệu quả. Một trong những phương pháp phổ biến là mô hình hai ngăn sáng tối, cho phép đánh giá hành vi lo âu của động vật sau khi sử dụng cao chiết.

3.1. Mô hình hai ngăn sáng tối trong nghiên cứu

Mô hình hai ngăn sáng tối là một phương pháp hiệu quả để đánh giá tác dụng an thần. Trong nghiên cứu, chuột được cho tiếp xúc với môi trường sáng và tối, và thời gian chúng dành cho mỗi khu vực sẽ cho thấy mức độ lo âu.

3.2. Đánh giá tác dụng an thần qua hành vi

Các hành vi như thời gian ở lại trong khu vực sáng hay tối sẽ được ghi nhận để đánh giá tác dụng an thần của cao chiết lá chùm ngây. Kết quả cho thấy sự cải thiện rõ rệt ở nhóm chuột được điều trị bằng cao chiết.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác dụng chống oxy hóa của cao chiết lá chùm ngây

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cao chiết lá chùm ngây có khả năng loại bỏ gốc tự do hiệu quả, với giá trị IC50 thấp. Điều này cho thấy chùm ngây có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm chống oxy hóa tự nhiên.

4.1. Phương pháp thử nghiệm hoạt tính chống oxy hóa

Hoạt tính chống oxy hóa của cao chiết lá chùm ngây thường được đánh giá bằng phương pháp DPPH. Kết quả cho thấy cao chiết có khả năng loại bỏ gốc tự do mạnh mẽ, góp phần bảo vệ tế bào khỏi tổn thương.

4.2. So sánh với các chất chống oxy hóa khác

Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt tính chống oxy hóa của cao chiết lá chùm ngây có thể so sánh với một số chất chống oxy hóa phổ biến như vitamin C, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong y học.

V. Ứng dụng thực tiễn của cao chiết lá chùm ngây trong y học

Cao chiết lá chùm ngây có thể được ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ sức khỏe tâm thần và thể chất. Với tác dụng an thần và chống oxy hóa, chùm ngây có thể trở thành một thành phần quan trọng trong các sản phẩm dược phẩm và thực phẩm chức năng.

5.1. Phát triển sản phẩm từ chùm ngây

Các sản phẩm từ cao chiết lá chùm ngây có thể được phát triển để hỗ trợ điều trị lo âu và căng thẳng. Điều này mở ra cơ hội cho việc sử dụng chùm ngây như một liệu pháp tự nhiên trong y học.

5.2. Tích hợp vào chế độ dinh dưỡng

Chùm ngây có thể được tích hợp vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày như một nguồn thực phẩm bổ dưỡng, giúp cải thiện sức khỏe tổng thể và tăng cường hệ miễn dịch.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về chùm ngây

Nghiên cứu về tác dụng an thần và chống oxy hóa của cao chiết lá chùm ngây đang mở ra nhiều triển vọng mới trong lĩnh vực y học. Cần tiếp tục nghiên cứu để khẳng định hiệu quả và độ an toàn của chùm ngây trong điều trị các vấn đề sức khỏe.

6.1. Tương lai của nghiên cứu chùm ngây

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xác định cơ chế hoạt động của các hợp chất trong chùm ngây, từ đó phát triển các sản phẩm dược phẩm hiệu quả hơn.

6.2. Khuyến khích sử dụng chùm ngây trong y học

Việc khuyến khích sử dụng chùm ngây như một liệu pháp tự nhiên có thể giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng, đồng thời giảm thiểu việc sử dụng thuốc tây có tác dụng phụ.

25/07/2025
Khảo sát tác dụng an thần giải lo âu và tác dụng chống oxy hóa của cao chiết từ lá cây chùm ngây moringa oleifera lam

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Lo âu là một biểu hiện thƣờng thấy khi phải đối mặt với những sự kiện căng thẳng, áp lực có thể gây suy nhƣợc tâm lý và sinh lý với các triệu chứng nhƣ: mệt mỏi, bồn chồn, khó tập trung, mất ngủ,… nếu tình trạng này kéo dài có thể gây ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe và bệnh tật [22]. Một số ngƣời phải sử dụng đến các loại thuốc an thần (nhóm benzodiazepin: diazepam, lorazepam,…) để giảm kích thích thần kinh, giảm cảm giác lo. Nhƣng khi sử dụng các loại thuốc trên sẽ có các tác dụng không mong muốn nhƣ chóng mặt, buồn nôn và gây suy giảm trí nhớ,…[1]. Vì vậy, việc khuyến khích nghiên cứu và phát triển các thuốc thảo dƣợc an toàn, có giá trị kinh tế, có thể sử dụng lâu dài là yêu cầu cấp thiết.

Bên cạnh đó, các chất chống oxy hóa có nguồn gốc tự nhiên cũng đang đƣợc ngành Dƣợc quan tâm bởi sự hiện diện của các gốc tự do là một trong những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến nhiều bệnh tật nguy hiểm (ung thƣ, xơ vữa động mạch, đột quỵ, đái tháo đƣờng,…) và lão hóa [36]. Cây Chùm ngây có tên khoa học là Moringa oleifera thuộc họ Moringaceae. Cây có nguồn gốc từ Ấn Độ [28], thƣờng phân bố chủ yếu ở các nƣớc cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới. Cây có giá trị về mặt thực phẩm lẫn dƣợc liệu trị bệnh.

Loại cây này đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣ một loại thảo mộc dinh dƣỡng vì chứa nhiều vitamin A, vitamin C, protein, chất khoáng và acid amin,…[24]. Trong dân gian, lá của cây đƣợc dùng để điều trị cảm lạnh và sốt (Biswas và Ghosh, 1950), ngƣời dân địa phƣơng ở đồng bằng Tây Bangal, Ấn Độ sử dụng nƣớc ép từ lá này để thanh nhiệt [41]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các dịch chiết từ cây Moringa oleifera có nhiều hoạt tính sinh học nhƣ chống oxy hóa, chống hen suyễn, chống đái tháo đƣờng, bảo vệ mô (gan, thận, tim, tinh hoàn và phổi), giảm đau, chống đông máu, hạ huyết áp và điều hòa miễn dịch [43]. Với mong muốn tìm kiếm một dƣợc liệu có sẵn trong tự nhiên vừa có tác dụng an thần vừa có tác dụng chống oxy hóa góp phần giúp phòng, chữa bệnh và cải thiện sức khỏe, tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tác dụng an thần giải lo âu và tác dụng chống oxy hóa của cao chiết từ lá cây Chùm ngây Moringa oleifera Lam.

Đề tài có các mục tiêu nhƣ sau: Mục tiêu tổng quát: - Khảo sát tác dụng an thần giải lo âu của cao chiết từ lá Chùm ngây bằng mô hình hai ngăn sáng tối. - Khảo sát tác dụng chống oxy hóa của cao chiết từ lá Chùm ngây. 2 Mục tiêu cụ thể: - Kiểm tra nguyên liệu. - Định tính sơ bộ thành phần hóa học.

- Chiết xuất dƣợc liệu. - Xác định hoạt tính chống oxy hóa.  Thử nghiệm đánh giá khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH.  Thử nghiệm xác định năng lực khử (RP).

- Thử nghiệm độc tính cấp của cao dƣợc liệu trên chuột nhắt trắng. - Thử nghiệm tác dụng an thần giải lo âu của cao dƣợc liệu trên chuột nhắt trắng bằng mô hình hai ngăn sáng tối. TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÙM NGÂY MORINGA OLEIFERA 2.1 Danh pháp Tên khoa học: Moringa oleifera Lam. Tên Việt Nam: cây Chùm ngây, cây Bồn bồn, cây Cải ngựa [5].

Tên nƣớc ngoài: Drumstick tree, Horseradish tree [28]. Tên đồng nghĩa: Moringa pterygosperma Gaertn [5]. Theo hệ thống phân loại của Takhtajan [20], cây Moringa oleifera có vị trí phân loại nhƣ sau: Giới thực vật (Plantae) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Sổ (Dilleniidae) Bộ Chùm ngây (Moringales) Họ Chùm ngây (Moringaceae) Chi Moringa Loài Moringa oleifera Lam. Vị trí phân loại Moringa oleifera Lam.

Mô tả thực vật Cây thân gỗ nhỏ, cao 8-10 m, phân nhánh nhiều, thân có tiết diện tròn, thân non có màu xanh có lông, thân già màu xám nốt sần. Lá kép lông chim 3 lần lẻ, mọc cách, có từ 5-7 cặp lá phụ bậc 1, 4-6 cặp lá phụ bậc 2, 6-9 cặp lá phụ bậc 3. Phiến lá chét hình 4 bầu dục dài 1,5-2 cm, rộng 2-2,5 cm, mặt trên xanh hơn mặt dƣới, lá non kích thƣớc lớn hơn lá già. Gân lá hình lông chim, nổi rõ mặt dƣới.

Cuống lá dài 18-25 cm. Lá chét mọc đối, gai nhỏ có lông ở chỗ phân nhánh lá kép lông chim. Cụm hoa dạng chùm xim mọc ở nách lá hay ngọn cành. Hoa không đều lƣỡng tính, màu trắng hơi vàng, mùi thơm, cuống hoa dài 1-2 cm.

Trục phát hoa màu xanh, có lông, dài 10-15 cm. Lá bắc hình vảy nhỏ, có lông. Quả nang treo to, dài 35-45 cm, có nhiều rãnh dọc, hơi gồ lên chỗ có hạt, quả khô có màu vàng xám. Hạt màu đen, ở 3 cạnh có 3 cánh màu trắng dạng màng mỏng [6].

Phân bố, sinh thái loài Moringa oleifera Lam. oleifera có nguồn gốc từ vùng cận Himalaya của Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Afghanistan, phát triển nhanh chóng và đƣợc sử dụng bởi ngƣời La Mã, Hy Lạp và Ai Cập cổ đại [28]. Cây hiện đƣợc trồng rộng rãi, đặc biệt trồng ở nhiều nơi trong vùng nhiệt đới (Thái Lan, Singapore, Sri Lanka, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam,…) [17]. Ở Việt Nam, cây Chùm ngây phân bố rộng rãi ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam trở vào.

Cây ƣa sáng và ƣa khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Chùm ngây có thể sống và phát triển tốt trên nhiều loại đất, từ loại đất đỏ bazan ở Tây Nguyên đến đất sét pha cát hoặc đất cát vùng ven biển. Một số tỉnh phía Bắc nhƣ Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Giang cũng đã bắt đầu trồng cây này [5], [9]. Giá trị về dinh dƣỡng của cây Chùm ngây Cây Chùm ngây đã đƣợc sử dụng để chống suy dinh dƣỡng, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh và bà mẹ cho con bú.

Bốn tổ chức phi chính phủ là "Trees for Life International", "Church World Service", "Educational Concerns for Hunger Organization" và "Volunteer Partnerships for West Africa" coi Chùm ngây là “nguồn dinh dƣỡng tự nhiên của vùng nhiệt đới”. Lá có thể ăn tƣơi, nấu chín hoặc bảo quản dƣới dạng bột khô trong nhiều tháng mà không bị giảm hàm lƣợng dinh dƣỡng [28]. oleifera rất giàu protein, beta-caroten, vitamin C, vitamin E, polyphenol và là nguồn cung cấp chất chống oxy hóa tự nhiên dồi dào [34]. 5 Thành phần các amino acid trong Chùm ngây thể hiện ở bảng 2.

Thành phần các amino acid (g/100 g protein) có trong cây Chùm ngây [21] Amino acid M. oleifera (%) Amino acid M. oleifera (%) Lysin 3,21 Arginin 8,00 Phenylalanin 4,24 Acid aspartic 6,88 Isoleucin 4,01 Serin 4,22 Methionin 1,00 Glycin 4,96 Valin 3,05 Alanin 3,22 Cystin 2,09 Histidin 2,20 Threonin 3,03 Prolin 2,09 Acid glutamic 14,43 Tyrosin 2,37 2. TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC - Nhiều nghiên cứu cho thấy các bộ phận của cây Chùm ngây chứa rất nhiều đƣờng đơn, hợp chất thiocarbamat, carbamat, nitril, flavonoid, các chất glucosinolat và isothiocyanat.

Các hợp chất flavonoid Kaempferid 3-O-(2”,3”-diacetylglucosid) [37] Kaempferid 3-O-(2”-O-galloylrhamnosid) [37] Kaempferid 3-O-(2”-O-galloylrutinosid)-7-O-α-rhamnosid [37] 6 Kaempferol 3-O-[α-rhamnosyl-(1→2)]-[α-rhamnosyl-(1→4)]-β-glucosid-7-O-α-rhamnosid [37] Kaempferol 3-O-[β-glcosyl-(1→2)]-[α-rhamnosyl-(1→6)]-β-glucosid-7-O-α-rhamnosid [37] Kaempferol 3-O-α-rhamnosid [37] Quercetin [27] Isoquercetin [47] 7 Rutin [27] Apigenin [23] Chrysin [23] Myricetin [23] 2. Các hợp chất terpenoid-steroid Vitamin A Stigmasterol [18] β-stiosterol (R=H) 3-O-(6’-O-oleoyl-β-D-glucopyranosyl)-β-sitosterol (R=6’-O-oleoyl-β-D-glucopyranosyl) [26], [31] 8 β-Caroten [39] 2. Các hợp chất nhóm carbamat, thiocarbamat và nitril Methyl-4-(2’,3’,4’-tri-O-acetyl-α-L- O-methyl-4-(2’,3’,4’-tri-O-acetyl-α-L- rhamnosyloxy) benzylcarbamat [29] rhamnosyloxy) benzylcarbamat [29] O-ethyl-4-(α-L-rhamnosyloxy) Ethyl-4-(2’,3’,4’-tri-O-acetyl-α-L- benzylcarbamat [31] rhamnosyloxy) benzylcarbamat [29] Niazicin A [5] Niazinin [30] Niaziminin A [30] Niazinmicin [31], [29] 9 Niazirin [5], [31] Niazirinin [5], [29] 2. Các dẫn xuất của acid phenolic và các hợp chất có vòng thơm khác Chlorogenic acid [23] Ellagic acid [23] Methyl-p-hydroxybenzoat [26] 4-Hydroxymellein [26] Benzoic acid 4-O-β-glucosid [37] Benzoic acid 4-O-β-glucosid [37] Vanilin [42] β-amyrin [23] 10 Aurantiamid acetat [23] Pterygospermin [23] Dibutyl phthalat [23] 2.

Các hợp chất glucosinolat and isothiocyanat Benzyl glucosinolat [23] Benzyl isothiocyanat [23] 4-[(α-L-rhamnopyranosyloxy) benzyl] isothiocyanat [31] - Abd Rani và cộng sự năm (2019) đã phân lập đƣợc hai hợp chất mới: etyl-(E)-undec- 6-enoat và 3,5,6-trihydroxy-2-(2,3,4,5,6-pentahydroxyphenyl)-4H-chromen-4-on bằng kỹ thuật sắc ký cột, phổ cộng hƣởng từ hạt nhân (NMR) và phổ khối lƣợng ion hóa tia điện tử (ESIMS) [18]. TỔNG QUAN VỀ TÁC DỤNG DƢỢC LÝ 2. Tác dụng bảo vệ gan Năm 2017, nhóm nghiên cứu của Phi Thị Cẩm Miện và cộng sự đã đánh giá khả năng bảo vệ gan của rễ cây Chùm ngây trên chuột thuần chủng BALB/c bị gây độc gan cấp bằng carbon tetrachlorid CCl4. Chuột đƣợc uống dịch chiết nƣớc rễ Chùm ngây ở liều 0,5 ml/kg và silymarin (50 mg/kg).

Sau 14 ngày cho uống, hoạt độ AST, ALT, LDH và bilirubin toàn phần trong huyết thanh giảm xuống. Dịch chiết cho tác dụng bảo vệ gan tƣơng đƣơng silymarin [12]. Tác dụng kháng viêm Năm 2020, Saleem và cộng sự đã nghiên cứu thấy dịch chiết methanol, nƣớc, ethyl axetat lá M. oleifera ở các mức liều 150, 300 và 600 mg/kg có khả năng chống viêm trên chuột Wistar bị viêm khớp do formaldehyd gây ra.

Tác động chống viêm khớp của Moringa oleifera có thể là do sự thu dọn các gốc tự do, ức chế biến tính protein, ổn định màng và các hoạt động chống proteinase [40]. Tác dụng chống oxy hóa - Phan Thị Bích Trâm và Nguyễn Thị Diễm My (2016) đã khảo sát về sự ảnh hƣởng của phƣơng pháp chiết tách và dung môi hữu cơ lên hoạt tính chống oxy hóa của lá và thân cây Chùm ngây. Kết quả cho thấy khả năng chống oxy hóa của lá cao hơn thân. Hiệu quả chiết bằng dung môi methanol tốt hơn ethanol.

Hoạt tính chống oxy hóa của mẫu chiết bằng phƣơng pháp chiết Soxhlet cao hơn phƣơng pháp chiết nóng trên cùng một dung môi chiết. Hàm lƣợng polyphenol tổng (TPC) và flavonoid tổng (TFC) của dịch chiết methanol từ lá bằng phƣơng pháp chiết Soxhlet lần lƣợt là 9,68 mg (GAE/g VCK) và 19,8 mg (QE/g VCK). Khả năng loại gốc tự do DPPH của mẫu lá đƣợc chiết bằng methanol theo phƣơng pháp Soxhlet có giá trị IC50 0,537 mg/ml [15]. - Năm 2021, KS Ahmed và cộng sự đã đánh giá khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH của dịch chiết ethanol 80% và dịch chiết nƣớc từ lá M.

Giá trị IC50 cho thấy hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết ethanol 80% (105,5 µg/ml) mạnh hơn dịch chiết nƣớc (216 µg/ml). Nghiên cứu này còn cho thấy rằng lá có chứa hàm lƣợng lớn hợp chất polyphenol [19]. Verma và các cộng sự nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa của các phân đoạn khác nhau từ lá M. oleifera: dịch chiết thô (MOCE), phân đoạn chloroform (MOCF), phân đoạn dietyl ete (MODF), phân đoạn polyphenolic (MOEF), 12 phân đoạn nƣớc (MOR) bằng phƣơng pháp loại bỏ gốc tự do DPPH, peroxy hóa lipid.

Hoạt tính chống oxy hóa giảm dần theo thứ tự: MOEF > MOCE > MODF > MOCF > MOR [46].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ