ĐẶT VẤN ĐỀ Lo âu là một biểu hiện thƣờng thấy khi phải đối mặt với những sự kiện căng thẳng, áp lực có thể gây suy nhƣợc tâm lý và sinh lý với các triệu chứng nhƣ: mệt mỏi, bồn chồn, khó tập trung, mất ngủ,… nếu tình trạng này kéo dài có thể gây ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe và bệnh tật [22]. Một số ngƣời phải sử dụng đến các loại thuốc an thần (nhóm benzodiazepin: diazepam, lorazepam,…) để giảm kích thích thần kinh, giảm cảm giác lo. Nhƣng khi sử dụng các loại thuốc trên sẽ có các tác dụng không mong muốn nhƣ chóng mặt, buồn nôn và gây suy giảm trí nhớ,…[1]. Vì vậy, việc khuyến khích nghiên cứu và phát triển các thuốc thảo dƣợc an toàn, có giá trị kinh tế, có thể sử dụng lâu dài là yêu cầu cấp thiết.
Bên cạnh đó, các chất chống oxy hóa có nguồn gốc tự nhiên cũng đang đƣợc ngành Dƣợc quan tâm bởi sự hiện diện của các gốc tự do là một trong những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến nhiều bệnh tật nguy hiểm (ung thƣ, xơ vữa động mạch, đột quỵ, đái tháo đƣờng,…) và lão hóa [36]. Cây Chùm ngây có tên khoa học là Moringa oleifera thuộc họ Moringaceae. Cây có nguồn gốc từ Ấn Độ [28], thƣờng phân bố chủ yếu ở các nƣớc cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới. Cây có giá trị về mặt thực phẩm lẫn dƣợc liệu trị bệnh.
Loại cây này đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣ một loại thảo mộc dinh dƣỡng vì chứa nhiều vitamin A, vitamin C, protein, chất khoáng và acid amin,…[24]. Trong dân gian, lá của cây đƣợc dùng để điều trị cảm lạnh và sốt (Biswas và Ghosh, 1950), ngƣời dân địa phƣơng ở đồng bằng Tây Bangal, Ấn Độ sử dụng nƣớc ép từ lá này để thanh nhiệt [41]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các dịch chiết từ cây Moringa oleifera có nhiều hoạt tính sinh học nhƣ chống oxy hóa, chống hen suyễn, chống đái tháo đƣờng, bảo vệ mô (gan, thận, tim, tinh hoàn và phổi), giảm đau, chống đông máu, hạ huyết áp và điều hòa miễn dịch [43]. Với mong muốn tìm kiếm một dƣợc liệu có sẵn trong tự nhiên vừa có tác dụng an thần vừa có tác dụng chống oxy hóa góp phần giúp phòng, chữa bệnh và cải thiện sức khỏe, tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tác dụng an thần giải lo âu và tác dụng chống oxy hóa của cao chiết từ lá cây Chùm ngây Moringa oleifera Lam.
Đề tài có các mục tiêu nhƣ sau: Mục tiêu tổng quát: - Khảo sát tác dụng an thần giải lo âu của cao chiết từ lá Chùm ngây bằng mô hình hai ngăn sáng tối. - Khảo sát tác dụng chống oxy hóa của cao chiết từ lá Chùm ngây. 2 Mục tiêu cụ thể: - Kiểm tra nguyên liệu. - Định tính sơ bộ thành phần hóa học.
- Chiết xuất dƣợc liệu. - Xác định hoạt tính chống oxy hóa. Thử nghiệm đánh giá khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH. Thử nghiệm xác định năng lực khử (RP).
- Thử nghiệm độc tính cấp của cao dƣợc liệu trên chuột nhắt trắng. - Thử nghiệm tác dụng an thần giải lo âu của cao dƣợc liệu trên chuột nhắt trắng bằng mô hình hai ngăn sáng tối. TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÙM NGÂY MORINGA OLEIFERA 2.1 Danh pháp Tên khoa học: Moringa oleifera Lam. Tên Việt Nam: cây Chùm ngây, cây Bồn bồn, cây Cải ngựa [5].
Tên nƣớc ngoài: Drumstick tree, Horseradish tree [28]. Tên đồng nghĩa: Moringa pterygosperma Gaertn [5]. Theo hệ thống phân loại của Takhtajan [20], cây Moringa oleifera có vị trí phân loại nhƣ sau: Giới thực vật (Plantae) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Sổ (Dilleniidae) Bộ Chùm ngây (Moringales) Họ Chùm ngây (Moringaceae) Chi Moringa Loài Moringa oleifera Lam. Vị trí phân loại Moringa oleifera Lam.
Mô tả thực vật Cây thân gỗ nhỏ, cao 8-10 m, phân nhánh nhiều, thân có tiết diện tròn, thân non có màu xanh có lông, thân già màu xám nốt sần. Lá kép lông chim 3 lần lẻ, mọc cách, có từ 5-7 cặp lá phụ bậc 1, 4-6 cặp lá phụ bậc 2, 6-9 cặp lá phụ bậc 3. Phiến lá chét hình 4 bầu dục dài 1,5-2 cm, rộng 2-2,5 cm, mặt trên xanh hơn mặt dƣới, lá non kích thƣớc lớn hơn lá già. Gân lá hình lông chim, nổi rõ mặt dƣới.
Cuống lá dài 18-25 cm. Lá chét mọc đối, gai nhỏ có lông ở chỗ phân nhánh lá kép lông chim. Cụm hoa dạng chùm xim mọc ở nách lá hay ngọn cành. Hoa không đều lƣỡng tính, màu trắng hơi vàng, mùi thơm, cuống hoa dài 1-2 cm.
Trục phát hoa màu xanh, có lông, dài 10-15 cm. Lá bắc hình vảy nhỏ, có lông. Quả nang treo to, dài 35-45 cm, có nhiều rãnh dọc, hơi gồ lên chỗ có hạt, quả khô có màu vàng xám. Hạt màu đen, ở 3 cạnh có 3 cánh màu trắng dạng màng mỏng [6].
Phân bố, sinh thái loài Moringa oleifera Lam. oleifera có nguồn gốc từ vùng cận Himalaya của Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Afghanistan, phát triển nhanh chóng và đƣợc sử dụng bởi ngƣời La Mã, Hy Lạp và Ai Cập cổ đại [28]. Cây hiện đƣợc trồng rộng rãi, đặc biệt trồng ở nhiều nơi trong vùng nhiệt đới (Thái Lan, Singapore, Sri Lanka, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam,…) [17]. Ở Việt Nam, cây Chùm ngây phân bố rộng rãi ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam trở vào.
Cây ƣa sáng và ƣa khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Chùm ngây có thể sống và phát triển tốt trên nhiều loại đất, từ loại đất đỏ bazan ở Tây Nguyên đến đất sét pha cát hoặc đất cát vùng ven biển. Một số tỉnh phía Bắc nhƣ Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Giang cũng đã bắt đầu trồng cây này [5], [9]. Giá trị về dinh dƣỡng của cây Chùm ngây Cây Chùm ngây đã đƣợc sử dụng để chống suy dinh dƣỡng, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh và bà mẹ cho con bú.
Bốn tổ chức phi chính phủ là "Trees for Life International", "Church World Service", "Educational Concerns for Hunger Organization" và "Volunteer Partnerships for West Africa" coi Chùm ngây là “nguồn dinh dƣỡng tự nhiên của vùng nhiệt đới”. Lá có thể ăn tƣơi, nấu chín hoặc bảo quản dƣới dạng bột khô trong nhiều tháng mà không bị giảm hàm lƣợng dinh dƣỡng [28]. oleifera rất giàu protein, beta-caroten, vitamin C, vitamin E, polyphenol và là nguồn cung cấp chất chống oxy hóa tự nhiên dồi dào [34]. 5 Thành phần các amino acid trong Chùm ngây thể hiện ở bảng 2.
Thành phần các amino acid (g/100 g protein) có trong cây Chùm ngây [21] Amino acid M. oleifera (%) Amino acid M. oleifera (%) Lysin 3,21 Arginin 8,00 Phenylalanin 4,24 Acid aspartic 6,88 Isoleucin 4,01 Serin 4,22 Methionin 1,00 Glycin 4,96 Valin 3,05 Alanin 3,22 Cystin 2,09 Histidin 2,20 Threonin 3,03 Prolin 2,09 Acid glutamic 14,43 Tyrosin 2,37 2. TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC - Nhiều nghiên cứu cho thấy các bộ phận của cây Chùm ngây chứa rất nhiều đƣờng đơn, hợp chất thiocarbamat, carbamat, nitril, flavonoid, các chất glucosinolat và isothiocyanat.
Các hợp chất flavonoid Kaempferid 3-O-(2”,3”-diacetylglucosid) [37] Kaempferid 3-O-(2”-O-galloylrhamnosid) [37] Kaempferid 3-O-(2”-O-galloylrutinosid)-7-O-α-rhamnosid [37] 6 Kaempferol 3-O-[α-rhamnosyl-(1→2)]-[α-rhamnosyl-(1→4)]-β-glucosid-7-O-α-rhamnosid [37] Kaempferol 3-O-[β-glcosyl-(1→2)]-[α-rhamnosyl-(1→6)]-β-glucosid-7-O-α-rhamnosid [37] Kaempferol 3-O-α-rhamnosid [37] Quercetin [27] Isoquercetin [47] 7 Rutin [27] Apigenin [23] Chrysin [23] Myricetin [23] 2. Các hợp chất terpenoid-steroid Vitamin A Stigmasterol [18] β-stiosterol (R=H) 3-O-(6’-O-oleoyl-β-D-glucopyranosyl)-β-sitosterol (R=6’-O-oleoyl-β-D-glucopyranosyl) [26], [31] 8 β-Caroten [39] 2. Các hợp chất nhóm carbamat, thiocarbamat và nitril Methyl-4-(2’,3’,4’-tri-O-acetyl-α-L- O-methyl-4-(2’,3’,4’-tri-O-acetyl-α-L- rhamnosyloxy) benzylcarbamat [29] rhamnosyloxy) benzylcarbamat [29] O-ethyl-4-(α-L-rhamnosyloxy) Ethyl-4-(2’,3’,4’-tri-O-acetyl-α-L- benzylcarbamat [31] rhamnosyloxy) benzylcarbamat [29] Niazicin A [5] Niazinin [30] Niaziminin A [30] Niazinmicin [31], [29] 9 Niazirin [5], [31] Niazirinin [5], [29] 2. Các dẫn xuất của acid phenolic và các hợp chất có vòng thơm khác Chlorogenic acid [23] Ellagic acid [23] Methyl-p-hydroxybenzoat [26] 4-Hydroxymellein [26] Benzoic acid 4-O-β-glucosid [37] Benzoic acid 4-O-β-glucosid [37] Vanilin [42] β-amyrin [23] 10 Aurantiamid acetat [23] Pterygospermin [23] Dibutyl phthalat [23] 2.
Các hợp chất glucosinolat and isothiocyanat Benzyl glucosinolat [23] Benzyl isothiocyanat [23] 4-[(α-L-rhamnopyranosyloxy) benzyl] isothiocyanat [31] - Abd Rani và cộng sự năm (2019) đã phân lập đƣợc hai hợp chất mới: etyl-(E)-undec- 6-enoat và 3,5,6-trihydroxy-2-(2,3,4,5,6-pentahydroxyphenyl)-4H-chromen-4-on bằng kỹ thuật sắc ký cột, phổ cộng hƣởng từ hạt nhân (NMR) và phổ khối lƣợng ion hóa tia điện tử (ESIMS) [18]. TỔNG QUAN VỀ TÁC DỤNG DƢỢC LÝ 2. Tác dụng bảo vệ gan Năm 2017, nhóm nghiên cứu của Phi Thị Cẩm Miện và cộng sự đã đánh giá khả năng bảo vệ gan của rễ cây Chùm ngây trên chuột thuần chủng BALB/c bị gây độc gan cấp bằng carbon tetrachlorid CCl4. Chuột đƣợc uống dịch chiết nƣớc rễ Chùm ngây ở liều 0,5 ml/kg và silymarin (50 mg/kg).
Sau 14 ngày cho uống, hoạt độ AST, ALT, LDH và bilirubin toàn phần trong huyết thanh giảm xuống. Dịch chiết cho tác dụng bảo vệ gan tƣơng đƣơng silymarin [12]. Tác dụng kháng viêm Năm 2020, Saleem và cộng sự đã nghiên cứu thấy dịch chiết methanol, nƣớc, ethyl axetat lá M. oleifera ở các mức liều 150, 300 và 600 mg/kg có khả năng chống viêm trên chuột Wistar bị viêm khớp do formaldehyd gây ra.
Tác động chống viêm khớp của Moringa oleifera có thể là do sự thu dọn các gốc tự do, ức chế biến tính protein, ổn định màng và các hoạt động chống proteinase [40]. Tác dụng chống oxy hóa - Phan Thị Bích Trâm và Nguyễn Thị Diễm My (2016) đã khảo sát về sự ảnh hƣởng của phƣơng pháp chiết tách và dung môi hữu cơ lên hoạt tính chống oxy hóa của lá và thân cây Chùm ngây. Kết quả cho thấy khả năng chống oxy hóa của lá cao hơn thân. Hiệu quả chiết bằng dung môi methanol tốt hơn ethanol.
Hoạt tính chống oxy hóa của mẫu chiết bằng phƣơng pháp chiết Soxhlet cao hơn phƣơng pháp chiết nóng trên cùng một dung môi chiết. Hàm lƣợng polyphenol tổng (TPC) và flavonoid tổng (TFC) của dịch chiết methanol từ lá bằng phƣơng pháp chiết Soxhlet lần lƣợt là 9,68 mg (GAE/g VCK) và 19,8 mg (QE/g VCK). Khả năng loại gốc tự do DPPH của mẫu lá đƣợc chiết bằng methanol theo phƣơng pháp Soxhlet có giá trị IC50 0,537 mg/ml [15]. - Năm 2021, KS Ahmed và cộng sự đã đánh giá khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH của dịch chiết ethanol 80% và dịch chiết nƣớc từ lá M.
Giá trị IC50 cho thấy hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết ethanol 80% (105,5 µg/ml) mạnh hơn dịch chiết nƣớc (216 µg/ml). Nghiên cứu này còn cho thấy rằng lá có chứa hàm lƣợng lớn hợp chất polyphenol [19]. Verma và các cộng sự nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa của các phân đoạn khác nhau từ lá M. oleifera: dịch chiết thô (MOCE), phân đoạn chloroform (MOCF), phân đoạn dietyl ete (MODF), phân đoạn polyphenolic (MOEF), 12 phân đoạn nƣớc (MOR) bằng phƣơng pháp loại bỏ gốc tự do DPPH, peroxy hóa lipid.
Hoạt tính chống oxy hóa giảm dần theo thứ tự: MOEF > MOCE > MODF > MOCF > MOR [46].