CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ KINH TE THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XA HOI CHỦ NGHĨA 1. Công bằng xã hội và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 1. Công bằng xã hội Công bang xã hội là một van đề xuyên suốt được đặt ra trong lịch sử nhân loại từ thời cỗ đại đến nay. Khi loài người nhận thức được bat công xã hội ở mức độ nao thì sẽ hướng tới sự công bằng ở mức độ tương ứng.
Như vậy, trong mỗi xã hội sẽ có những chuẩn mực riêng về công bằng xã hội, do hoàn cảnh lịch sử cụ thể của giai đoạn đó qui định.Ăngghen từng nhận xét: chân lý của người Hi Lạp và La Mã cho rằng chế độ nô lệ là công bang. Chân lý của nhà tư sản năm 1789 đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến vì chế độ ấy không công bang.Do đó, khái niệm về công bằng xã hội biến đổi, chăng những cùng với thời gian và không gian mà cả cùng với bản thân con người nữa. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, công bằng xã hội có nghĩa là mọi người đều phải tuân theo trật tự đã được cộng đồng thừa nhận, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt. Khi sở hữu tư nhân xuất hiện thì nội dung của khái niệm công bằng cũng thay đổi: sự công băng được xem xét trong mỗi quan hệ với địa vị xã hội.
Platôn cho rằng: dù xã hội không có sự bình đăng nhưng vẫn có sự công bang, bởi lẽ công bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình và phải biết được thân phận mình. Từ thế kỉ XVI, cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, những tư tưởng về công bang xã hội đã tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong lịch su tư tưởng về công băng, tiên bộ xã hội của nhân loại. Nhà triết học vĩ đại người Pháp J.Rutxo tập trung phê phán quan hệ đăng cấp, bất bình đăng trong xã hội tư bản; phê phán tính hai mặt của sở hữu tư nhân. Ông cho rằng đó là nguyên nhân làm cho xã hội phân chia giàu nghéo, làm gia tăng sự bat công trong xã hội.
Muốn xoá bỏ tình trạng đó con người phải thiết lập “khế ước xã hội” để cải biến chính mình, loại bỏ tính xấu xa, đặc biệt là lòng tham và tính ích kỉ thì sẽ đạt được công bằng và bình đăng. Đây là những giải pháp trừu tượng và khó thực hiện. Còn theo nhà triết học Đức I.Cantơ thì công bằng xã hội gồm: công bằng về bảo hộ, công bang trong trao đổi va phân phối. Trong đó, ông nhắn mạnh công băng trong phân phối là quan trọng nhất.
Cantơ chủ trương xây dựng một xã hội văn minh, đề cao công bằng, bình đẳng trong phân phối. Mặc dù chưa đầy đủ nhưng quan niệm phân phối công băng của Cantơ là một nguyên tắc quan trọng trong việc đi tới công bằng xã hội. Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng (H.Owen) bày tỏ mơ ước về một xã hội công bang, ở đó không có chế độ tư hữu, bóc lột, bất công, mọi người đều lao động và hưởng thụ như nhau. Tuy nhiên, đó chỉ là mô hình một xã hội lý tưởng, công bằng ở đây là thứ công băng bình quân chủ nghĩa và không có lực lượng, giải pháp nào để đi tới xây dựng một xã hội như mơ ước.
Mục tiêu hang đầu đặt ra tại các nước tư bản chủ nghĩa là thúc day tăng trưởng kinh tế, van đề công bằng xã hội chỉ được quan tâm khi tác động tiêu cực của kinh tế thị trường làm gay gắt các vấn đề xã hôi, tạo ra nguy cơ bùng nô xã hội, de doa sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản. Mục đích giải quyết các van đề xã hội của nhà nước tư san chỉ giới hạn trong khuôn khổ chế độ tư bản chủ nghĩa và được xem như phương sách ồn định chế độ tư bản chủ nghĩa, do đó, công bằng trong xã hội tư sản khó có thé trở thành mục tiêu, thành động lực cho sự phát triển. Khách quan mà nói, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã đạt được một số thành công nhất định trong việc thực hiện công bằng xã hội nhằm xoa dịu bớt những xung đột xã hội vốn có của nó thông qua một số cuộc cải cách xã hội. Nhờ đó, trong một chừng mực nhất định đã làm dịu bớt đi những mâu thuẫn gay gắt tồn tại trong lòng xã hội tư sản.
Tuy nhiên, với ban chat thống trị, bóc lột, chủ nghĩa tư bản không thé và không muốn giải quyết triệt dé van đề công bằng xã hội. Tổng thống Mỹ - Bill Clinton - phải thừa nhận: Thị trường là một thứ kì diệu, nhưng nó không cho chúng ta những đường phố an toản, môi trường sạch sẽ, các cơ hội học hành công bằng và không đảm bảo sức khoẻ cho trẻ em nghèo bắt đầu cuộc sống hoặc tuôi già khoẻ mạnh và an toản. Hiện nay, chủ nghĩa tư bản đang phải đối mặt với nhiều thách thức về công bằng xã hội gay gắt, nhất là khi vẫn đề này được xem xét trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao. Nhà kinh tế học người Pháp, Ôlivio de Saloges, có lý khi cho rằng: Đông đảo quần chúng không thé hiểu được rằng một sự tăng trưởng kinh tế ngày càng gia tốc lại được thể hiện băng sự phân phối bất công đến thé vì thu nhập cá nhân và bat bình dang ngày cảng trầm trọng.
Trong bối cảnh đó, xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và lý thuyết về công bang xã hội. Chang hạn như trào lưu cô điển và tân cô cho răng muốn phát triển phải bớt công băng đi vì không thể cùng một lúc vừa có tăng trưởng kinh tế vừa có công bang xã hội. Khi nào kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định mới có điều kiện dé thực hiện công bằng xã hội. Thuyết “Nên kinh tế hỗn hợp” do P.Samuelson - nhà kinh tế học người Mỹ - đưa ra lại khang định: phải kết hợp giữa kinh tế thị trường với Nhà nước.
Theo ông, sự bất công sinh ra từ kinh tế thị trường là tất yếu, vì vậy, chính phủ phải thông qua những chính sách phân phối lại thu nhập, điều hoà những bất công trong xã hội. Trong tác phẩm “Một lý thuyết về công bằng”, nhà xã hội học Mỹ John Rawls coi : “Công bằng là đặc tính quan trọng dau tiên của thể chế xã hội cũng như chân lý là đặc tinh dau tiên của hệ tư tưởng” [Trích theo 58;65]. Những bat công về kinh tế và xã hội phải tổ chức sao cho mọi người đều có thé chấp nhận và chúng gan với những vị trí và chức năng được mở ra cho tat cả mọi người. Ông đưa ra nguyên tắc: tối đa hoá cái tối thiểu cho những người bị yếu thế trong xã hội và xem đó như là lý tưởng công bằng xã hội và con đường dé tiến lên xã hội đó là bằng đạo đức.Lênin, các ông đã xem xét công bằng xã hội một cách toàn diện, hệ thống hơn trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những tư tưởng tiễn bộ của các nhà lý luận trước đó.Mac, sự phát triển kinh tế tư bản về bản chất không thể dẫn tới công bằng xã hội được.
Phương thức phân phối trong chủ nghĩa tư bản là bất hợp lý vì nó không dựa vào sức lao động, do giai cấp tư sản - người chiếm hữu tư liệu sản xuất - quyết định và kết quả của phương thức phân phối này là: nhà tư bản ngày càng giàu lên trên sự đau khổ và nghèo đói của những người công nhân và nhân dân lao động.Mác đã đưa ra quan niệm về nguyên tắc phân phối đảm bảo công băng xã hội trong tác phâm “Phê phán cương lĩnh Gô - ta”. Mác chỉ rõ rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sau khi đã khấu trừ đi những khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như dé duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản pham xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: “mdi người sản xuất sẽ được nhận lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã khẩu trừ số lao động của anh ta cho các qui xã hội)” [49:31].Mac đây là một nguyên tắc phân phối công bằng, nhưng C.Mác cũng chỉ rõ, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, sự phân phối đó chưa loại trừ được mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đăng nhất định giữa các thành viên trong xã hội vì những người lao động không phải ai cùng 10 như ai, người này khác người kia về thé chất và tinh thần, về năng lực lao động va tay nghề, về hoàn cảnh gia đình. Vì vậy, “với một công việc ngang nhau và do đó, với một phan tham dự như nhau vào qui tiêu dùng xã hội, thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia. Đó vừa là ưu việt vừa là thiểu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động.Mác điều đó khó có thể tránh khỏi trong giai đoạn dau của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Thiếu sót đó chỉ có thé khắc phục trong chủ nghĩa cộng sản, khi có thé thực hiện được nguyên tắc phân phối: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Nhận thức sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán trong tư tưởng và hành động về việc phải xây dựng một xã hội Việt Nam công băng, bình đăng. Hồ Chí Minh chỉ rõ nội hàm của công bằng xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, tự do trong chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội trong đó mọi người đều bình đẳng.
Trong van dé phân phối công bằng, Người nhấn mạnh nguyên tắc: hưởng thụ ngang bằng với mức độ đóng góp, công hién của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải là sự ngang bằng về hưởng thụ giữa các cá nhân mà không tính đến sự cống hiến của từng người, không coi việc thực hiện công băng xã hội như là sự cào bằng trong nghèo khổ. Người cũng kiên quyết chống lại sự đồng nhất tinh thần đồng cam cộng khổ với chủ nghĩa bình quân. Bình quân chủ nghĩa là trái với bản chất của chủ nghĩa xã hội.