phần mở đầu, kết luận, phụ lục, các danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chƣơng 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƢ DÂN Chƣơng 3: CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN Ở BẢN HỒ Chƣơng 4: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN ĐẾN SINH KẾ CỦA CÁC TỘC NGƢỜI KHU VỰC DỰ ÁN 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về sinh kế là hƣớng nghiên cứu đƣợc quan tâm trong nhân học phát triển trong những thập kỷ gần đây tại Việt Nam. Nghiên cứu về sinh kế ở các cấp độ khác nhau giúp các nhà hoạch định chính sách có cách nhìn toàn diện và hiệu quả hơn cho phát triển nông thôn cấp địa phƣơng. Về sinh kế của ngƣời dân khu vực có các công trình thủy điện thì chủ yếu các nghiên cứu hƣớng về sinh kế của ngƣời dân tái định cƣ.
Khu vực miền núi phía Bắc đƣợc đầu tƣ khá nhiều về thủy điện, các công trình thủy điện đƣợc xây dựng hầu khắp các tỉnh nhƣ Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Lạng Sơn,… Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về tác động và ảnh hƣởng của các dự án này, cụ thể nhƣ: Nghiên cứu của các thành viên trong Mạng lƣới sông ngòi Việt Nam đƣợc tập hợp trong cuốn sách “Nghiên cứu tái định cƣ thủy điện ở Việt Nam thời kỳ đổi mới” do Trần Văn Hà chủ biên, xuất bản năm 2011 đều khẳng định sự quan trọng của các nguồn vốn xã hội. Phƣơng pháp nghiên cứu chính của các nghiên cứu này là phƣơng pháp đánh giá nhanh (PRA); phƣơng pháp đánh giá sinh kế có sự tham gia, phỏng vấn, phân tích, mô hình hóa… Kết quả nghiên cứu của hầu hết các tác giả đã chỉ ra rằng, việc mất đi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai đã ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sinh kế của ngƣời dân sau tái định cƣ. Các nghiên cứu này đều chỉ ra các nguồn lực sinh kế cũ đều bị suy giảm, hoặc nghiêm trọng hơn là bị phá hủy. Do sinh kế bấp bênh, nên cuộc sống của ngƣời dân sau tái định cƣ rất khó khăn, tỷ lệ nghèo đói có nguy cơ tăng lên, và một loạt những vấn đề hệ lụy về mặt xã hội, văn hóa, an ninh cũng đƣợc đặt ra.
Nhƣng những khuyến nghị để ổn định cuộc sống, đặc biệt là khôi phục sinh kế cho ngƣời dân sau tái định cƣ mới chỉ xoay quanh việc củng cố và bồi đắp vốn tài chính, vốn tự nhiên và vốn vật chất. Nguồn vốn con ngƣời và vốn xã hội chƣa đƣợc quan tâm đúng mức để tạo ra sinh kế bền vững. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu của Trần Văn Hà, Đan Tiếp Phúc (2013) “Ứng phó của các cộng đồng hạ lƣu đập thủy điện Hòa Bình trong phát triển sinh kế bền vững dƣới tác động của thay đổi môi trƣờng sinh thái và nguồn nƣớc sông Đà” đã sử dụng lý thuyết sinh thái học văn hóa để chỉ ra những tác động của đập thủy điện không chỉ ảnh hƣởng đến cƣ dân phải di cƣ mà còn ảnh hƣởng trực tiếp tới dân vùng hạ lƣu đập thủy điện. Tác giả đã chỉ ra những tác động đến tiếp cận các nguồn vốn phát triển sinh kế bền vững của cộng đồng: suy giảm nguồn tài nguyên, tài chính và vốn đất, ảnh hƣởng đến sản xuất nông nghiệp, ảnh hƣởng đến nƣớc sinh hoạt, giao thông đƣờng thủy.
Công trình đã chỉ ra khả năng ứng phó của ngƣời dân vùng hạ lƣu nhƣ: đầu tƣ vào thâm canh và chăn nuôi, làm hàng thủ công, chăn nuôi thủy hải sản, ứng phó với nguồn nƣớc là 2/3 số hộ đã sử dụng nguồn nƣớc chảy trực tiếp trong tự nhiên, số còn lại dùng nƣớc giếng khoan, giếng đào, để sản xuất ngoài nƣớc tự nhiên thì còn phải bơm nƣớc từ sông Đà. Chuyên khảo Phạm Quang Hoan chủ biên (2012) "Văn hóa các tộc ngƣời vùng lòng hồ và vùng tái định cƣ thủy điện Sơn La" với 1071 trang in và nhiều ảnh tƣ liệu đã nêu ra một số vấn đề nổi cộm về môi trƣờng, xã hội và văn hóa của tộc ngƣời. Những đặc trƣng văn hóa truyền thống của các tộc ngƣời đƣợc nhận diện rõ ở cả 3 khía cạnh: văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần. Từ các kết quả nghiên cứu trên, các tác giả đã đƣa ra các quan điểm, giải pháp để đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các tộc ngƣời vùng lòng hồ và vùng tái định cƣ thủy điện Sơn La theo hƣớng phát triển.
Luận án tiến sĩ “Biến đổi sinh kế của ngƣời Mƣờng vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình – nghiên cứu trƣờng hợp xã Hiền Lƣơng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình” của Trịnh Thị Hạnh (2017) đã nghiên cứu sự biến đổi của môi trƣờng sinh kế, quá trình biến đổi sinh kế và sự biến đổi một số nét văn hóa và thiết chế xã hội thông qua một số phƣơng pháp định tính và định lƣợng. Tác giả đã đi sâu phân tích hai loại hình di cƣ theo kiểu “di vén” và “lập làng mới” và khẳng định đƣợc rằng tái định cƣ là một quá trình thích ứng văn hóa, và nguồn vốn xã hội là một mấu chốt trong quá trình tái định cƣ và sự biến đổi sinh kế. Tác giả dùng lý thuyết gián đoạn 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm lý xã hội, lý thuyết sinh kế bền vững và lý thuyết vốn xã hội để tập trung phân tích làm rõ các mô hình tái định cƣ, các kiểu thích ứng với xã hội và môi trƣờng mới của các cộng đồng bị buộc phải rời bỏ nơi ở cũ để thích ứng vào điều kiện sống hoàn toàn mới sau tái định cƣ. Nghiên cứu này cho thấy những nghiên cứu trƣớc đây thƣờng quan tâm phân tích tầm quan trọng của nguồn vốn vật chất mà bỏ qua nguồn vốn xã hội.
Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn xã hội (chủ yếu quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, thân hữu và quan hệ với thế giới siêu nhiên) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi sinh kế cho ngƣời dân sau tái định cƣ và là những nhân tố quan trọng để đạt đƣợc sinh kế bền vững. Vốn xã hội phải đƣợc xem xét cùng với nguồn vốn vật chất, vì nó quyết định khả năng tiếp cận và cách thức mà ngƣời ta sử dụng vốn vật chất nhƣ thế nào để đạt đƣợc sinh kế bền vững. Luận án cũng đã chỉ ra rằng, các chính sách của nhà nƣớc dành cho tái định cƣ là rất nhiều nhƣng không nắm đƣợc vốn xã hội nên không đạt kết quả nhƣ mong muốn. Tuy nhiên, địa bàn Sa Pa nói chung, xã Bản Hồ nói riêng, thì việc xây dựng các công trình thủy điện đã ảnh hƣởng không nhỏ đến vốn vật chất (tài nguyên thiên nhiên, đất đai, sông suối, thắng cảnh), làm thu hẹp các điều kiện sinh kế của các công đồng cƣ dân vốn có nền kinh tế truyền thống và kinh tế du lịch rất ổn định và phát triển.
Vì vậy, trong luận văn này, tác giả đi sâu vào tác động của thủy điện lên môi trƣờng, lên các điều kiện sinh kế của ngƣời dân. Công trình nghiên cứu “Giải pháp thực hiện công tác di dân, tái định cƣ thủy điện Sơn La” của tác giả Nguyễn Viết Hoàng (2009) là công trình nghiên cứu dựa trên cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học để đƣa ra nguyên nhân, thực trạng công tác di dân của thủy điện Sơn La, từ đó đề ra giải pháp cho việc di dân tái định cƣ. Công trình mới là bƣớc đầu nên chủ yếu là mô tả mà chƣa đi vào phân tích các nguyên nhân cụ thể và vấn đề văn hóa xã hội khi thực hiện di dân. Công trình đã đƣa ra một số giải pháp cụ thể để giúp sớm ổn định đời sống của ngƣời dân bị thu hồi đất và điều chỉnh phƣơng pháp, cách thức đền bù giúp ổn định đời sống nhân dân.
Công trình “Tái định cƣ, nghèo đói và đấu tranh: Sự vận hành của vốn xã hội trong quá trình tái định cƣ của ngƣời Dao tại thủy điện Tuyên Quang (Nghiên cứu 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣờng hợp tại địa bàn xã Lang Quán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang)” của Hà Thị Kiều Anh (2018) đã áp dụng lý thuyết vốn xã hội và hành vi tập thể và các phƣơng pháp bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm, quan sát tham dự để nêu lên những vấn đề, những khó khăn tồn đọng của công tác tái định cƣ thủy điện Tuyên Quang. Tác phẩm đã phân tích những điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành xã Lang Quán, tình hình công tác di dân tái định cƣ: Chất lƣợng nguồn lao động kém, thiếu việc làm gia tang, thiếu nƣớc sinh hoạt, thiếu đất sản xuất nhƣ ruộng, vƣờn rừng, thổ cƣ. Tác giả đã chỉ ra, ngƣời dân vùng tái định cƣ đã biết sử dụng vốn xã hội để giải quyết vấn đề còn tồn đọng này. Vì nghiên cứu đi sâu vào liệt kê và giải quyết các vấn đề xã hội, những hành vi tập thể, những kiện cáo và vai trò của ngƣời đứng đầu nên vẫn chƣa nêu đƣợc những suy thoái môi trƣờng, những vấn đề sinh kế của ngƣời dân cũng nhƣ những vấn đề về sự biến đổi văn hóa nơi đây.
Các công trình nghiên cứu về các dân tộc Hmông, Dao, Tày liên quan đến sinh kế cũng có khá nhiều. Trong Tạp chí Các khoa học về trái đất, Số 35 năm 2013 (342-348) có đăng “Tác động của thiên tai đến sinh kế các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai” của tác giả Đào Thị Lƣu, Lê Văn Hƣơng, đã áp dụng khung sinh kế bền vững để phân tích các tác động tiêu cực của thiên tai lên đời sống của ngƣời dân các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, công trình mới dừng ở mức thống kê và đánh giá đến các thiệt hại mà thiên tai đã gây ra. Công trình đã nêu đƣợc một số sinh kế truyền thống nhƣng lại chƣa đƣa ra sự biến đổi sinh kế mà chỉ dừng lại ở thống kê thiệt hại.
Bài “Tri thức địa phƣơng trong sử dụng thuốc Nam của ngƣời Dao đỏ” của tác giả Trần Thị Hồng Hạnh đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 5 (2002) đã nêu lên tập quán lấy thuốc nam chữa bệnh cho các thành viên trong gia đình và các thành viên khác trong làng bản, là tập quán từ lâu đời của ngƣời Dao.