CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế 1. Thương mại quốc tế Theo ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), thương mại quốc tế là khái niệm để chỉ các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, từ mua bán hàng hóa hữu hình đến các dịch vụ như bảo hiểm, tài chính, tín dụng, chuyển giao công nghệ thông tin, vận tải,. Việc thực hiện thương mại quốc tế giữa các quốc gia khác nhau được thúc đẩy bởi sự khác biệt về tài nguyên tự nhiên, nguồn nhân lực và kỹ năng sản xuất giữa các quốc gia, và cần phải thông qua thương mại quốc tế để phân chia, phối hợp và sử dụng một cách hiệu quả các yếu tố đó.
Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian. Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm. Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng). Ngoài ra, ngắn gọn hơn, theo Adam Smith, tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra theo bình quân đầu người, hoặc tăng sản phẩm lao động (tăng thu nhập ròng của xã hội).
Một số lý thuyết về thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế 1. Một số lý thuyết về thương mại quốc tế Các khái niệm như ưu thế tuyệt đối, ưu thế so sánh, nguồn nhân lực và quy mô kinh tế là các từ khóa được sử dụng để mô tả các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế. Thứ Nhóm 2 5 tự của các từ khóa trên cũng phản ánh quá trình phát triển lý thuyết về sức mạnh quyết định của mô hình thương mại trong hơn hai thế kỷ qua. Chủ nghĩa trọng thương: Thương mại là một trò chơi có tổng bằng 0, vì tổng số của cải (vàng) trên thế giới là không đổi.
Xuất khẩu làm tăng của cải của một nước vì đem vàng về cho nước đó, còn nhập khẩu làm giảm của cải của một nước. Lợi thế tuyệt đối của Adam- Smith: Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (The wealth of nations - 1776), Adam Smith cho rằng lợi thế tuyệt đối là lý thuyết nền tảng cho việc xây dựng mối quan hệ thương mại giữa các quốc gia. Lợi thế tuyệt đối đạt được thông qua trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của thế giới thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Lợi thế so sánh của David Ricardo: Ricardo nhấn mạnh: “Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác.
Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại.” Mô hình Heckscher - Ohlin: Lý thuyết Heckscher – Ohlin (Heckscher, 1919; Ohlin, 1933) được xây dựng trên giả thuyết giao thương quốc tế chỉ diễn ra giữa hai quốc gia, hai sản phẩm cuối cùng và 2 yếu tố sản xuất cơ bản. Mô hình Heckscher – Ohlin sau này được Samuelson (1949, 1953) bổ sung, mở rộng thêm yếu tố thuế và kỹ năng (Gandolfo, 2014). Để kiểm tra xem cấu trúc thương mại thực tế có phù hợp với các kết luận được lý thuyết dự đoán, Leontief (1953) đã có những đóng góp một cách đột phá. Nghiên cứu của Leontief đã kích thích một lượng lớn cuộc thảo luận về mô hình thương mại.
Có ba tiến bộ quan trọng chính, chủ yếu được thể hiện ở ba khía cạnh: Thứ nhất, trong lý thuyết đã nhận Nhóm 2 6 ra rằng cấu trúc thương mại của các sản phẩm tương đương với cấu trúc yếu tố, do đó có thể mở rộng mô hình hai yếu tố thành mô hình nhiều yếu tố để phân tích kinh nghiệm (Vanek, 1968). Điều này cho phép tích hợp thêm nhiều yếu tố sản xuất ngoài vốn và lao động vào phân tích cấu trúc thương mại. Thứ hai, ở mức phương pháp, so sánh giữa cấu trúc yếu tố được sử dụng trong sản xuất hàng hóa và sự phong phú thực sự của yếu tố để xác định xem cấu trúc thương mại thực tế có phù hợp với lý thuyết yếu tố hay không. Dựa trên lý thuyết yếu tố, hai yếu tố này nên tương đồng.
Thứ ba, ở mức kết luận, nhận ra rằng sự khác biệt về công nghệ giữa các quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích cấu trúc thương mại (Helpman, 1999). Trefler (1995) là kết quả nghiên cứu quan trọng nhất và gần đây nhất trong các tiến bộ trên. Ông đã sử dụng phương pháp trên và một cơ sở dữ liệu bao gồm 33 quốc gia (vùng lãnh thổ) và 9 yếu tố đầu vào để tiến hành phân tích nghiêm ngặt. Trefler đã tiết lộ rằng khi các quốc gia sử dụng cùng một cấu trúc công nghệ, cấu trúc yếu tố sử dụng trong sản xuất hàng hóa không thể phản ánh hoàn toàn tình trạng phong phú của yếu tố, và có sự không tương xứng giữa lý thuyết yếu tố Heckscher-Ohlin và dữ liệu thực tế, có mặt bất kỳ giao dịch nào bị thiếu.
Nhưng nếu thả lỏng giả thiết rằng cấu trúc công nghệ giữa các quốc gia là giống nhau và giới thiệu sự khác biệt về công nghệ giữa các quốc gia, dữ liệu thực tế có thể phản ánh một cách khá chính xác những dự đoán của lý thuyết. Kết luận này cũng nhận được sự hỗ trợ từ nhiều nghiên cứu khác, như Davis et al (1997). Việc giới thiệu sự khác biệt về công nghệ đã làm cho lý thuyết yếu tố vẫn chưa bị phủ nhận. Sau khi vai trò quan trọng của công nghệ trong thương mại được phát hiện trên mặt thực tế, đã có một lượng lớn văn xuôi về công nghệ và thương mại trong lý thuyết.
Grossman và Helpman (1995) đã giới thiệu chi tiết về điều này. Nghiên cứu về cấu trúc thương mại đã minh họa rõ rằng sản xuất hàng hóa không chỉ sử dụng các tổ hợp yếu tố sản xuất khác nhau mà còn sử dụng công nghệ khác nhau. Tuy nhiên, công nghệ khác nhau được sử dụng cho các sản phẩm thương mại nào? Trong hàng nghìn loại hàng hóa trên thị trường quốc tế, sản phẩm nào sử dụng công nghệ cao hơn, sản phẩm nào sử dụng công nghệ thấp hơn? Đặc biệt là, giả sử có sự khác biệt về khả năng công nghệ giữa các quốc gia, tình hình công nghệ của các sản phẩm thương mại của một quốc gia ra sao, sản phẩm nào sử dụng công nghệ cao hơn, sản phẩm nào sử dụng công nghệ thấp hơn? Phương pháp Nhóm 2 7 sử dụng hệ số sản xuất và tiêu dùng để biểu diễn công nghệ đã không thể trả lời được những câu hỏi này. Một vấn đề khác của phương pháp đó là không thể tận dụng triệt để các dữ liệu thống kê phân loại hàng hóa ngày càng chi tiết hơn.
Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế được biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: 𝑌𝑡 × 𝑌(𝑡 − 1) 𝑦 = × 100% 𝑌 Trong đó Y là quy mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng. Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
Lý thuyết Cổ điển (Classical Theory): Smith (1776) là người đặt nền tảng cho mô hình tăng trưởng cổ điển, dựa vào phía cung của nền kinh tế với hàm sản xuất có biến phụ thuộc là sản lượng (Y) và các biến độc lập bao gồm lao động (L); máy móc thiết bị (K) và đất đai (T), một cách tổng quát, hàm sản xuất có dạng: Y = f (L, K, T). Các yếu tố dẫn tới tăng trưởng trong mô hình Cổ điển đó là tăng dân số, tăng đầu tư và tăng đất đai sử dụng vào sản xuất. Các nhà kinh tế theo Trường phái Cổ điển cho rằng lợi nhuận của các nhà sản xuất suy giảm không phải do suy giảm năng xuất cận biên mà do cạnh tranh giữa giới chủ về lao động dẫn tới tăng tiền lương của người lao động. Lý thuyết tăng trưởng cổ điển không xác định rõ mối liên kết giữa lạm phát với ảnh hưởng của thuế tới lợi nhuận và tăng trưởng, tuy vậy mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng được ngầm hiểu là mối quan hệ tỷ lệ nghịch: tăng chi phí trả lương làm giảm lợi nhuận của nhà sản xuất và dẫn tới giảm sản lượng.
Lý thuyết Keynes (Keynes Theory): Keynes (1936) đã đưa ra một mô hình toàn diện hơn - mô hình đường tổng cung và đường tổng cầu (AD - AS) để kết nối lạm phát và tăng trưởng. Theo lý thuyết Keynes, trong ngắn hạn đường AS có hệ số góc dương và nhỏ hơn 900 vì vậy khi có những thay đổi bên Cầu sẽ tác động vào lạm phát và sản lượng Nhóm 2 8 (thuật ngữ sản lượng được hiểu là GDP), cơ chế điều chỉnh trong ngắn hạn trong lý thuyết Keynes chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu lạm phát và sản lượng đều tăng; giai đoạn tiếp theo lạm phát tiếp tục tăng nhưng sản lượng không tăng, thậm chí giảm (giai đoạn “Đình lạm”) và sau đó lạm phát cũng sẽ giảm. Theo mô hình này, trong ngắn hạn sẽ có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát, tuy vậy sự đánh đổi này không diễn ra thường xuyên vì khi sản lượng giảm xuống dưới mức sản lượng tiềm năng (toàn dụng lao động), lạm phát cũng sẽ giảm.