CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu và xác định vấn đề chính sách Năng lượng được xem như chìa khóa quan trọng cho quá trình cơ giới hóa nông nghiệp, giúp tăng hiệu quả sản xuất, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp (CEMA, 2014). Phát triển nông nghiệp gắn với cơ giới hóa sản xuất sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào giá xăng dầu khi lượng cầu xăng dầu sẽ càng tăng theo nhu cầu cơ giới hóa nông nghiệp (Agheli, 2015), đồng thời, xăng dầu lại đóng góp vào chi phí sản xuất các yếu tố đầu vào khác cho nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, chất hóa học, máy móc nông nghiệp1 nên giá xăng dầu ảnh hưởng vừa trực tiếp, vừa gián tiếp lên chi phí sản xuất nông nghiệp của nông dân (Lambert and Gong, 2010). Xăng dầu là mặt hàng chịu sự ảnh hưởng mạnh từ giá xăng dầu thế giới2 và các chính sách thuế xăng dầu của chính phủ khi thường được sử dụng như một công cụ điều hành giá và đảm bảo nguồn thu ngân sách (Alper vàTorul, 2009). Trong đó, chính sách thuế TTĐB đối với xăng dầu được khá nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng để khắc phục những ngoại tác tiêu cực mà nó gây ra đối với môi trường và sức khỏe con người.
Hiện nay, chính phủ các nước có xu hướng áp thuế TTĐB trên giá bán ra của xăng với mục đích buộc người tiêu dùng phải là đối tượng gánh chịu thuế. Tại Việt Nam, người dân thường xuyên đối mặt với nhiều đợt điều chỉnh giá xăng dầu liên tiếp. Đặc biệt, đợt điều chỉnh ngày 05/09/2016 theo Nghị định 100/2016/NĐ-CP thay đổi cơ sở tính thuế TTĐB của mặt hàng xăng thay đổi từ việc áp thuế lên giá đầu vào sang áp lên giá bán ra (bao gồm chi phí kinh doanh định mức, lợi nhuận định mức và phần trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu) khiến giá bán lẻ xăng đội lên gần 200 đồng/lít xăng so với quy định cũ (Anh Minh, 2016). Trước thực trạng trên, một số ý kiến cho rằng việc tăng giá xăng do mở rộng cơ sở tính thuế TTĐB theo Nghị định 100/2016/NĐ-CP sẽ làm tăng gánh nặng chi phí cho khu vực sản xuất nông nghiệp, cụ thể là tác động đến phần lớn lao động trong cả nước hoạt động trong lĩnh vực này và nhu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng cơ giới hóa.
Với khoảng 47% dân số làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (Tổng cục thống kê, 2015), giá xăng dầu 1 Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (2008), xăng dầu chiếm trên 4% chi phí sản xuất phân bón hóa học, gần 10% trong chi phí sản xuất hóa chất. 2 Trên 60% lượng xăng dầu tiêu thụ nội địa có nguồn gốc từ nhập khẩu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 tăng do thay đổi chính sách thuế TTĐB có thể ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của nông dân, đối tượng chiếm 72,5% trong nhóm hộ nghèo cùng cực của Việt Nam (World Bank, 2012). Bên cạnh đó, mục đích hạn chế tiêu dùng bằng công cụ thuế TTĐB sẽ phần nào làm chậm tiến trình cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Hiện nay, để làm giảm chi phí cho khu vực sản xuất nông nghiệp, chính phủ các nước có nền nông nghiệp phát triển thường hỗ trợ tín dụng thuế hoặc hoàn thuế TTĐB trên lượng xăng dầu sử dụng cho hoạt động canh tác trong các trang trại. Tuy nhiên, Việt Nam và các quốc gia trong khu vực chưa từng thực hiện chính sách hỗ trợ thuế đối với xăng dầu cho mục đích sản xuất nông nghiệp, mà chỉ hỗ trợ thông qua các chính sách nông nghiệp. Vì thế, nghiên cứu này sẽ xác định mức độ tác động của việc mở rộng cơ sở thuế TTĐB đối với xăng lên sản xuất nông nghiệp; từ đó, xem xét liệu các chính sách hỗ trợ thuế cho sản xuất nông nghiệp có phù hợp để áp dụng tại Việt Nam hay không.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu này để đánh giá tác động của việc thay đổi cơ sở tính thuế TTĐB trên giá bán ra của xăng lên hoạt động sản xuất nông nghiệp và doanh thu thuế của nhà nước từ việc thay đổi cách đánh thuế TTĐB, từ đó đề xuất một số kiến nghị về phương án hỗ trợ cho hoạt động sản xuất của nông hộ, đặc biệt nông hộ trong khu vực trồng trọt.3 Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành trả lời các câu hỏi sau: (1) Tác động của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB lên giá bán lẻ của xăng? (2) Tác động của giá bán lẻ xăng tăng lên do thay đổi chính sách thuế đến thặng dư tiêu dùng của nông hộ sử dụng xăng làm đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và doanh thu thuế tăng lên mà chính phủ thu được do mở rộng cơ sở tính thuế TTĐB? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào phân tích tác động của chính sách thuế TTĐB lên mặt hàng xăng đối với hoạt động trồng trọt trong nông nghiệp của nông hộ. Đồng thời, để đánh giá tác động của thuế TTĐB đối áp lên mặt hàng xăng đối với hoạt động trồng trọt, những yếu tố đầu vào khác như lao động, đất đai, máy móc cũng được đưa vào nghiên cứu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.5 Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Nghiên cứu chủ yếu sử dụng khung lý thuyết kinh tế học về thuế của Stiglitz (1986), đánh giá một chính sách thuế tốt phải đảm bảo ba khía cạnh: tính hiệu quả, tính công bằng và tính đơn giản. Nghiên cứu thực hiện phân tích định lượng thông qua mô hình kinh tế lượng để ước lượng được độ co dãn theo giá riêng và độ co dãn thay thế của xăng dầu và các đầu vào khác của hoạt động trồng trọt; từ đó, xác định ảnh hưởng phúc lợi của nông dân, nhà sản xuất, nhà phân phối xăng dầu và doanh thu thuế của chính phủ. Bộ dữ liệu điều tra chi tiêu hộ gia đình VHLSS 2014 được thu thập trên 9.399 hộ gia đình thuộc 63 tỉnh thành của Việt Nam do Tổng cục thống kê khảo sát và những thông tin khác được thu thập trên các website của Hiệp hội xăng dầu, Tổng cục thống kê, Tổ chức năng lượng thế giới và các trang thông tin có liên quan.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Nghiên cứu thực hiện đánh giá tác động của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB lên mặt hàng xăng đến hoạt động sản xuất của nông hộ để xác định những tổn thất phúc lợi mà nông dân phải gánh chịu khi thay đổi giá tính thuế TTĐB làm tăng giá bán lẻ xăng trên thị trường và số thuế tăng lên mà chính phủ thu được do thay đổi chính sách thuế TTĐB. Để từ đó, các cơ quan quản lý nhà nước có thêm cơ sở để chính phủ thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với khu vực sản xuất nông nghiệp.7 Cấu trúc luận văn Luận văn bao gồm năm chương.
Chương một giới thiệu về bối cảnh hình thành vấn đề chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương hai trình bày khung lý thuyết vận dụng cho phân tích chính sách thuế và tác động của thuế đến sản xuất của nông hộ. Chương ba trình bày mô hình kinh tế lượng và các vấn đề ước lượng, dữ liệu nghiên cứu và cách thức xử lý biến. Chương bốn trình bày kết quả nghiên cứu và các thảo luận dựa trên khung phân tích kinh tế học về thuế.
Chương năm thể hiện các kết luận của tác giả về thuế TTĐB và tác động của thuế TTĐB đối với sản xuất nông nghiệp và đề xuất một số khuyến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khung lý thuyết kinh tế học về thuế Theo Stiglitz (1986), một sắc thuế tốt phải đạt được ba tiêu chí sau: (1) Tính hiệu quả kinh tế; (2) Tính công bằng và (3) Tính đơn giản.1 Tính hiệu quả kinh tế Tính hiệu quả kinh tế thể hiện là hệ thống thuế gây ra tổn thất vô ích nhỏ nhất, không gây biến dạng thị trường. Khi chính phủ đánh thuế lên hàng hóa, người tiêu dùng bị thiệt do với một mức thu nhập cũ, họ phải đứng trước hai lựa chọn: (i) cắt giảm lượng tiêu thụ; hoặc (ii) chuyển sang sử dụng hàng hóa khác thay thế khi giá hàng hóa tiêu dùng đắt hơn một cách tương đối so với hàng hóa khác. Đây lần lượt là hai hiệu ứng mà người tiêu dùng phải đối mặt: hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế.
Như vậy, một hệ thống thuế hiệu quả khi sự can thiệp của thuế làm tối thiểu hóa tổn thất vô ích của xã hội. Tổn thất vô ích của xã hội được xác định không chỉ dựa trên độ co dãn của cung và cầu xăng mà thuế đánh trên xăng làm tăng giá cũng góp phần làm thay đổi phúc lợi của các thành phần của nền kinh tế. Theo Jr Hines (2007), những hàng hóa có cầu càng kém co dãn, tổn thất xã hội gây ra càng thấp do việc tăng thuế tác động không đáng kể đến hành vi của người tiêu dùng, ngược lại, tổn thất vô ích của xã hội sẽ càng cao nếu cầu hàng hóa càng co dãn, khi đó, người tiêu dùng sẽ phản ứng mạnh với sự tăng lên của giá hàng hóa do thuế.2 Tính công bằng Theo Stiglitz (1986) một hệ thống thuế phải đảm bảo tính công bằng hàng ngang và công bằng hàng dọc. Tính công bằng hàng ngang khi những cá nhân như nhau trên mọi phương diện được đối xử như nhau.
Tính công bằng hàng dọc khi những cá nhân ở vị thế đóng thuế cao hơn so với người khác nên đóng thuế cao hơn. Hay những người có khả năng chi trả cao hơn sẽ phải đóng thuế nhiều hơn khi sử dụng nhiều hàng hóa hơn. Những hàng hóa có độ co dãn của cầu theo thu nhập cao hơn càng đảm bảo tính công bằng hàng dọc. Thuế TTĐB đánh lên xăng mang tính chất thoái lui, khi thuế đánh trên tỷ lệ phần trăm trên giá bán, những người có thu nhập càng cao sẽ đối mặt với số thuế TTĐB chi trả trên tổng thu nhập càng thấp, ngược lại, những người tiêu dùng có thu nhập thấp, tỷ trọng thuế TTĐB TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 đối với xăng mà họ gánh chịu càng cao.
Theo hàm phúc lợi xã hội Rawlsian, chính sách thuế đảm bảo tính công bằng khi chính phủ thực hiện tăng thuế suất đối với tất cả những mọi người, trừ những người thiệt thòi nhất.