Chương 1. Giới thiệu; Chương 2. Cơ sở lý thuyết; Chương 3. Thiết kế nghiên cứu; Chương 4.
Kết quả phân tích và thảo luận; Chương 5. Kết luận và khuyến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 2. Thuế bảo vệ môi trƣờng Theo Luật số 57/2010/QH12 về Thuế Bảo vệ môi trường ban hành ngày 15/11/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012, thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường.
Tại điều 3 của Luật, đối tượng chịu thuế bao gồm: xăng, dầu, mỡ nhờn, than đá… Anh (2015) cho rằng Thuế bảo vệ môi trường bao gồm hai mục đích chính (i) tạo nguồn thu ngân sách để giải quyết ngoại tác tiêu cực6 đối với môi trường; (ii) thay đổi nhận thức và hành vi của các chủ thể đã tác động tiêu cực đến môi trường. Theo UNDP (2016), thuế nhiên liệu7 chiếm khoảng 60-70% doanh thu thuế môi trường. Hiện nay, mức thuế nhiên liệu trung bình ước tính là $1.19/lít ở châu Âu và $0.39/lít ngoài châu Âu. Mặt khác, mức thuế suất ở các nước châu Phi cao hơn mức thuế suất của Mỹ và tiệm cận với mức thuế suất ở châu Âu trong một số trường hợp.
Trái lại, một số nước trong vùng Vịnh và châu Á vẫn tính phí thấp, hoặc thậm chí trợ cấp tiêu dùng một số nhiên liệu nhất định. Dù quy định ở mức thuế suất nào, việc cập nhật theo sự thay đổi về giá, ước tính chi phí xã hội và môi trường là cần thiết đối với thuế nhiên liệu. Về ưu điểm, thuế nhiên liệu (i) có thể mang hình thức lũy tiến ở nhiều quốc gia đang phát triển, trừ trường hợp đánh thuế đối với dầu hỏa và than; (ii) là một sắc thuế hiệu quả về kinh tế, không gây biến dạng thị trường; (iii) dễ thi hành với nguy cơ trốn tránh thuế thấp; (iv) cơ sở thuế lớn. Về nhược điểm, (i) thuế nhiên liệu được cho là có tính lũy thoái và không công bằng đối với các hộ nghèo; (ii) chỉ thuế suất rất cao mới có thể giảm đáng kể lượng tiêu thụ nhiên liệu, do đó các phương án khác (ví dụ như tiêu chuẩn nhiên liệu /xe cộ) sẽ hiệu quả hơn; (iii) tác động kinh tế của thuế nhiên liệu có thể cao trong một số trường hợp hoặc một khoảng thời gian nhất định.
6 ví dụ như giảm phát thải khí nhà kính (thuế carbon ), giảm ô nhiễm không khí từ bụi mịn…; ngoài ra, tắc nghẽn, tai nạn giao thông và tiếng ồn cũng là các ngoại tác đi kèm gắn liền với giao thông, nhưng không có quan hệ trực tiếp đến tiêu dùng nhiên liệu (UNDP, 2016) 7 Thuế nhiên liệu là thuế gián thu tính vào tiêu dùng nhiên liệu, và là một trong các loại thuế bảo vệ môi trường. (UNDP, 2016) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết cầu tiêu dùng và sự hình thành hàm cầu Có hai cách tiếp cận cơ bản để hình thành hàm cầu (Theil & Clements, 1987), một trong số đó là phương pháp tối ưu hóa trong kinh tế học cổ điển thông qua một hàm thỏa dụng, cụ thể là hàm cầu Marshallian, là một hàm theo giá và thu nhập. Frank Asche và cộng sự (2005) khẳng định rằng không tồn tại một tiêu chuẩn rõ ràng trong việc lựa chọn hàm cầu; dạng hàm phù hợp nhất phụ thuộc vào cấu trúc chính xác trong dữ liệu cơ sở.
Tuy nhiên, với việc đảm bảo các ràng buộc: tính cộng dồn, tính đồng nhất, tính đối xứng, tính nghịch chiều (xem Phụ lục 1), mô hình hàm cầu hệ thống đã khắc phục được nhiều hạn chế của mô hình phương trình đơn như (i) dạng hàm tùy ý và độ co dãn không đổi; (ii) giá cả của hàng hóa bị loại khỏi mô hình và (iii) bỏ qua những ràng buộc trong lý thuyết cầu tiêu dùng (xem Phụ lục 2). Lý thuyết Kinh tế học về thuế Stiglitz & Rosengard (2015) cho rằng một trong năm đặc điểm đáng mong đợi của một hệ thống thuế tốt là hiệu quả kinh tế. Một hệ thống thuế được xem là hiệu quả khi nó không can thiệp vào sự phân bổ nguồn lực hiệu quả, không gây biến dạng thị trường (ví dụ: thuế trọn gói, lump-sum tax). Nói cách khác, người dân hay doanh nghiệp không thể làm gì để thay đổi nghĩa vụ thuế của họ.
Tuy nhiên, hầu hết các sắc thuế đều gây biến dạng, làm thay đổi giá tương đối; vì thế các tác nhân kinh tế có thể điều chỉnh hành vi (ảnh hưởng thay thế do thuế) để thay đổi tiền thuế phải nộp. Như vậy, một sắc thuế tiệm cận hiệu quả phải giúp hạn chế đến mức tối thiểu tổn thất phúc lợi trên một đơn vị thu ngân sách huy động được. Có hai yếu tố chính tác động đến tổn thất vô ích, cụ thể tổn thất vô ích sẽ tăng lên theo (i) bình phương thuế suất; và theo (ii) độ co giãn của cung, cầu (đền bù) (xem chi tiết tại Phụ lục 3). Lý thuyết Kinh tế học môi trƣờng Ngoại tác và Định thuế Trong kinh tế học môi trường, theo Perkins (2006), suy thoái môi trường thường được xem là kết quả của thất bại thị trường – ngoại tác (xem Phụ lục 4).
Để giải quyết ngoại tác, một trong những công cụ chính phủ có thể can thiệp là định thuế. Thuế Pigouvian là một loại thuế đánh vào các tác nhân gây ngoại tác cho môi trường (thiệt hại môi trường) như một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 động lực để ngăn ngừa hay giảm nhẹ thiệt hại. Theo đó, thuế đánh trên mỗi đơn vị hàng hóa bằng với chi phí ngoại tác biên tại mức sản lượng hiệu quả xã hội (xem Hình 2. Với trường hợp ngoại tác tích cực, trợ cấp tại mức sản lượng hiệu quả xã hội là cần thiết thay vì đánh thuế (OECD, 1997; “Pigouvian taxes,” n.
Có hai cách đánh thuế môi trường: đánh thuế vào sản phẩm gây ô nhiễm và đánh thuế vào chất gây ô nhiễm. Theo Perkins (2006), đánh thuế vào sản phẩm gây ô nhiễm tạo ra động lực hạn chế sản xuất ra sản phẩm có chi phí ngoại tác. Một số ví dụ như: thuế đánh vào mỗi tấn thép hoặc sản phẩm hóa dầu, thuế đánh vào xăng dầu tiêu biểu cho chi phí cho ô nhiễm và ách tắc giao thông.1 Mô hình thuế Pigouvian. Nguồn: (“Pigouvian taxes,” n.) Các phương pháp đánh giá môi trường Theo Tietenberg (n.), có thể phân phương pháp đánh giá lợi ích và phí tổn môi trường thành hai loại: đánh giá trực tiếp và đánh giá gián tiếp.
Về đánh giá trực tiếp, Phạm Khánh Nam (2016) cho rằng việc đo lường tác động phải trải qua các bước sau: nhận dạng thay đổi số lượng hoặc chất lượng môi trường; xác định thay đổi trong hoạt động kinh tế ở các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 phương diện “tác động sức khỏe” hay “tác động sản lượng”; từ đó tính toán phí tổn ứng với các phương diện tác động kể trên.1 Các bước đo lường tác động theo phương pháp thị trường (Market-based techniques). Nguồn: Phạm Khánh Nam (2016) Đối với phương pháp Chi phí bệnh tật, có thể áp dụng tốt trong các trường hợp bệnh ngắn ngày, không có hậu quả tương lai; phương pháp này mắc một số nhược điểm như khó xây dựng hàm liều lượng phản ứng, không tính đến chi phí phát sinh từ hành vi tự bảo vệ của cá nhân, không xác định được đầy đủ chi phí bệnh tật trung bình. Tổng quan nghiên cứu 2. Xác định độ co giãn cầu xăng theo giá và phân tích tác động kinh tế của chính sách tăng thuế xăng Các bài báo nghiên cứu tác động của chính sách tăng thuế xăng lên tiêu dùng xăng và ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội của các nhóm đối tượng.
Về phương pháp, West & Williams (2004) sử dụng mô hình LA/AIDS với các hàng hóa xăng, nghỉ ngơi và hàng hóa khác, dựa trên dữ liệu khảo sát chi tiêu tiêu dùng để ước lượng. Trong khi đó, Tiezzi & Verde (2016) sử dụng mô hình QAIDS với 7 hàng hóa8 dựa 8 Thức ăn tại nhà, điện, gas tự nhiên, nhiên liệu khác tại nhà, nhiên liệu động cơ (xăng), giao thông công cộng, chi tiêu khác (Tiezzi & Verde, 2016) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trên dữ liệu vi mô từ 2007-2009 của Khảo sát chi tiêu tiêu dùng Mỹ. Mặt khác, Nikodinoska & Schröder (2016) sử dụng mô hình DQAIDS với các hàng hóa nhiên liệu xe hơi, thức ăn, điện, nhiên liệu khác, hàng hóa khác. Về kết quả, thứ nhất, độ co giãn cầu xăng theo giá là kém co giãn, xấp xỉ -0.4 (Tiezzi & Verde, 2016; West & Williams, 2004); trong khi đó, kết quả này trong nghiên cứu của Nikodinoska & Schröder (2016) là rất kém co giãn -0.
Lý do tác giả đưa ra là (i) nhiều hộ gia đình phụ thuộc vào xe ô tô hàng ngày, vì thế rất khó để giảm tiêu dùng nhiên liệu trong ngắn hạn, hơn nữa, đầu tư mua xe mới rất tốn kém; (ii) nhiều người nhận thấy thích sử dụng phương tiện cá nhân hơn giao thông công cộng, thậm chí hệ thống giao thông công cộng rất phát triển. Nikodinoska & Schröder (2016) còn tìm thấy độ co giãn theo giá cao hơn đối với thức ăn (-0.972); tuy nhiên đây là độ co giãn không bù đắp, và độ co giãn bù đắp thường thấp hơn về mặt tuyệt đối. Độ co giãn cầu xăng theo thu nhập đối với xăng, thức ăn, điện cho thấy đây là những hàng hóa thông thường và thiết yếu (xem Phụ lục 5). Kết quả độ co giãn theo giá chéo cho thấy xăng có quan hệ bổ sung với thức ăn, gas, điện và giao thông công cộng.
Tiezzi & Verde (2016) cho rằng sự bổ sung giữa xăng và giao thông công cộng (-0.563) hàm ý tăng giá xăng làm cho giá giao thông công cộng trở nên đắt hơn. Thứ hai, West & Williams (2004) cho rằng những tranh cãi về gánh nặng thuế môi trường đánh vào các hộ gia đình thu nhập thấp thường bỏ qua cách thức phân bổ lại doanh thu thuế môi trường để làm giảm gánh nặng thuế. Nhiều quốc gia châu Âu đã cải cách thuế môi trường bằng cách sử dụng doanh thu thuế môi trường để cắt giảm thuế lao động và vì vậy tạo ra những hiệu quả tăng thêm trong thị trường lao động. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị rằng cắt giảm thuế lao động giúp giảm nhẹ tác động lũy thoái của thuế môi trường (kết quả mô hình, chỉ số lũy tiến là -0.11% tăng đáng kể so với kịch bản không phân bổ lại doanh thu là -0.
Định lượng sự thay đổi chi phí bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí Các bài báo tập trung nghiên cứu chi phí bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí.