Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã ghi nhận sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ trong giai đoạn 2010 - 2015. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 28,5% năm 2010 lên 40,0% năm 2015, trong khi tỷ trọng nông nghiệp giảm sâu từ 37,6% xuống còn 9,0%. Nhằm phát triển hạ tầng kỹ thuật và ứng phó với biến đổi khí hậu theo Quyết định phê duyệt thuộc Chương trình SP-RCC của Thủ tướng Chính phủ, dự án xây dựng Kè chống xói lở đầm Cù Mông đã được triển khai quy mô lớn. Thống kê từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy toàn thị xã Sông Cầu đã thực hiện thu hồi 146,70 ha đất nông nghiệp với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ đạt 323,907 tỷ đồng.

Tuy nhiên, việc thu hồi diện tích lớn đất nuôi trồng thủy sản đã tạo ra áp lực nặng nề lên đời sống và sinh kế của cộng đồng cư dân ven đầm. Việc mất đi tư liệu sản xuất cốt lõi khiến nhiều hộ gia đình rơi vào cảnh thiếu việc làm và xáo trộn thu nhập. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng quản lý, sử dụng đất nuôi trồng thủy sản; lượng hóa các tác động của quá trình chuyển đổi đất đến cơ cấu việc làm và thu nhập; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sinh kế bền vững cho người dân bị thu hồi đất. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại hai xã trọng điểm Xuân Hòa và Xuân Bình thuộc thị xã Sông Cầu trong giai đoạn 2013 - 2015. Kết quả khảo sát 125 hộ gia đình cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoàn thiện chính sách an sinh xã hội địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh ban hành năm 1999, kế thừa nền tảng lý thuyết của Robert Chambers và Gordon Conway. Khung phân tích tập trung đánh giá năng lực sinh kế hộ gia đình thông qua ngũ giác 5 nguồn vốn:

  • Vốn tự nhiên: Diện tích mặt nước đầm Cù Mông, đất nuôi trồng thủy sản và hệ sinh thái thủy sinh ven biển.
  • Vốn con người: Trình độ học vấn, độ tuổi lao động, kỹ năng nghề nghiệp và sức khỏe của các thành viên trong hộ.
  • Vốn vật chất: Nhà ở kiên cố, hệ thống ao đìa, lồng bè nuôi trồng, cơ sở hạ tầng giao thông và công trình bờ kè.
  • Vốn tài chính: Tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng, nguồn thu nhập định kỳ, tiền gửi tiết kiệm và khả năng tiếp cận vốn tín dụng.
  • Vốn xã hội: Mạng lưới tương trợ xóm giềng, sự gắn kết cộng đồng và vai trò của các tổ chức đoàn thể địa phương.

Đồng thời, đề tài kết hợp khung pháp lý về quản lý đất đai và chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Quyết định số 57/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 8/2015 đến tháng 4/2016. Dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo kinh tế - xã hội thị xã Sông Cầu giai đoạn 2005 - 2015, hồ sơ địa chính, số liệu thống kê đất đai và hồ sơ phương án bồi thường giải phóng mặt bằng. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra khảo sát trực tiếp 125 hộ dân có đất nuôi trồng thủy sản bị thu hồi phục vụ dự án bờ kè đầm Cù Mông, trong đó có 40 hộ tại xã Xuân Hòa và 85 hộ tại xã Xuân Bình.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên tiêu chí tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi của hộ gia đình: phân chia thành nhóm thu hồi trên 50% diện tích và nhóm thu hồi dưới 30% diện tích. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện cao, giúp so sánh chính xác sự khác biệt trong chiến lược thích ứng sinh kế giữa các nhóm đối tượng.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chứng trước và sau khi thu hồi đất, kết hợp phân tích định tính từ các cuộc phỏng vấn sâu. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm lượng hóa cụ thể mức biến động thu nhập, cơ cấu chi tiêu tiền bồi thường, đồng thời nhận diện rõ nét các rào cản tâm lý và tập quán sản xuất của người dân trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận sự phân hóa rõ nét về khả năng thích ứng nghề nghiệp dựa trên mức độ mất đất. Ở nhóm hộ có tỷ lệ đất nuôi trồng thủy sản bị thu hồi trên 50%, tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp thành công đạt tới 85,0%. Các hộ này chủ động chuyển hướng sang kinh doanh thương mại, dịch vụ buôn bán nhỏ dọc tuyến đường bờ kè hoặc đầu tư nuôi thủy sản lồng bè ngoài khơi, giúp thu nhập bình quân và đời sống tinh thần tăng lên so với giai đoạn trước khi thu hồi.

Thứ hai, nhóm hộ bị thu hồi dưới 30% diện tích đất gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì mức sống. Phần lớn các hộ này có thu nhập không đổi hoặc sụt giảm từ 15,0% đến 25,0%. Nguyên nhân chính là do tâm lý ngại thay đổi nghề nghiệp, người dân cố bám trụ sản xuất trên diện tích ao đìa còn lại quá manh mún, dẫn đến chi phí vận hành cao và hiệu quả kinh tế quy mô bị suy giảm nghiêm trọng.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng nguồn tiền bồi thường, hỗ trợ bộc lộ sự thiếu cân đối giữa tiêu dùng và tái đầu tư. Trong tổng số 323,907 tỷ đồng chi trả bồi thường toàn thị xã, có trên 60,0% nguồn tiền được các hộ dân sử dụng vào việc xây dựng nhà cửa kiên cố dọc bờ kè và mua sắm tiện nghi sinh hoạt, khoảng 20,0% gửi tiết kiệm, và chỉ có khoảng 20,0% được tái đầu tư trực tiếp vào mở rộng sản xuất kinh doanh mới.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực tạo nên điểm nghẽn lớn cho chuyển đổi việc làm. Trong số lao động bị ảnh hưởng, tỷ lệ lao động trên 35 tuổi chiếm trên 60,0%, tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ đạt khoảng 27,0% và tỷ lệ qua đào tạo nghề ngắn hạn chỉ chiếm 14,0%, khiến cơ hội tiếp cận việc làm tại các khu công nghiệp tập trung bị hạn chế.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm thu nhập ở nhóm mất ít đất bắt nguồn từ sự đứt gãy giữa việc suy giảm nguồn vốn tự nhiên và sự chậm trễ nâng cấp nguồn vốn con người. So sánh với các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây tại các vùng ven biển, kết quả tại Sông Cầu khẳng định rằng việc hỗ trợ tài chính một lần nếu không đi kèm định hướng chuyển đổi việc làm dài hạn sẽ dễ dẫn đến khủng hoảng sinh kế cục bộ.

Về phương thức biểu diễn khoa học, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan biến động thu nhập giữa các nhóm hộ mất đất, kết hợp biểu đồ tròn mô tả cơ cấu phân bổ 323,907 tỷ đồng tiền đền bù. Bảng tổng hợp đa chiều về tình trạng việc làm trước và sau dự án minh chứng rằng: mặc dù công trình bờ kè đầm Cù Mông hoàn thiện hạ tầng giao thông và giảm thiểu xói lở, nhưng bài toán an sinh bền vững cho người dân mất đất sản xuất vẫn đòi hỏi các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề thực chất hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm ổn định thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư bị thu hồi đất tại thị xã Sông Cầu, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện chính sách bồi thường và định giá đất: Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên cùng Sở Tài nguyên và Môi trường cần áp dụng phương pháp định giá đất cụ thể theo Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT sát với giá giao dịch thực tế trên thị trường. Thực hiện kéo dài thời gian hỗ trợ ổn định đời sống từ 12 tháng lên tối đa 24 tháng đối với các hộ bị thu hồi trên 50% diện tích đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, áp dụng ngay trong giai đoạn 2016 - 2017.

  2. Đổi mới chương trình đào tạo nghề gắn với chuỗi giá trị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Sông Cầu chủ trì tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng, tập trung vào kỹ thuật nuôi trồng thủy sản lồng bè công nghệ cao và kỹ năng kinh doanh dịch vụ du lịch. Mục tiêu đạt tối thiểu 70,0% lao động bị ảnh hưởng trong độ tuổi từ 18 đến 45 tuổi có chứng chỉ nghề và việc làm ổn định đến năm 2018.

  3. Quy hoạch mặt bằng kinh doanh thương mại ven kè: Ban Quản lý dự án phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Xuân Hòa và Xuân Bình bố trí 100% các điểm kinh doanh dịch vụ, ki-ốt thương mại dọc tuyến kè đầm Cù Mông mới xây dựng để ưu tiên giao quyền sử dụng cho 125 hộ dân bị thu hồi đất phát triển kinh tế dịch vụ trong giai đoạn 2016 - 2020.

  4. Cung ứng gói tín dụng vi mô ưu đãi phục hồi sản xuất: Ngân hàng Chính sách Xã hội thị xã triển khai gói vay vốn ưu đãi với mức lãi suất hỗ trợ dưới 5,0%/năm trong 3 năm đầu cho các hộ dân có nhu cầu mua con giống tôm, ốc hương hoặc đầu tư ngư lưới cụ đánh bắt mặt nước biển, phấn đấu tỷ lệ giải ngân đạt trên 90,0% nhu cầu thực tế của các hộ gia đình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn chuyên sâu dành cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và an sinh xã hội: Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện/thị xã có thể ứng dụng khung đánh giá tác động sinh kế để xây dựng phương án bồi thường giải phóng mặt bằng cho 14 dự án phát triển kinh tế trọng điểm ven biển.
  2. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng và nhà hoạch định chính sách: Vận dụng quy trình điều tra xã hội học và khung pháp lý từ Luật Đất đai 2013 để tổ chức công tác bồi thường minh bạch, giảm thiểu tỷ lệ khiếu nại, khiếu kiện của người dân xuống dưới mức 5,0%.
  3. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý đất đai: Sử dụng khung sinh kế bền vững DFID kết hợp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng 125 mẫu làm tài liệu phân tích phương pháp luận nghiên cứu định lượng và định tính.
  4. Các tổ chức phát triển cộng đồng và hiệp hội nghề nghiệp: Tham khảo kinh nghiệm chuyển đổi nghề thích ứng biến đổi khí hậu để thiết kế các chương trình sinh kế thay thế cho hơn 800 nghìn hộ nông dân tại các vùng ven biển miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nhóm hộ bị thu hồi trên 50% diện tích đất lại có tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp và phục hồi thu nhập tốt hơn nhóm dưới 30%? Nhóm hộ mất trên 50% diện tích đất nhận khoản tiền bồi thường lớn và đối mặt với áp lực mất hẳn tư liệu sản xuất chính, tạo động lực thúc đẩy 85,0% hộ nhanh chóng chuyển hướng sang kinh doanh thương mại ven kè hoặc nuôi lồng bè. Trong khi đó, nhóm mất dưới 30% diện tích có tâm lý ngại thay đổi, cố bám trụ trên diện tích ao đìa manh mún, khiến thu nhập suy giảm từ 15,0% đến 25,0%.

Khung sinh kế bền vững DFID được vận dụng cụ thể như thế nào trong đề tài? Khung DFID được sử dụng để phân tích sự chuyển dịch của ngũ giác 5 nguồn vốn tại 125 hộ khảo sát. Nghiên cứu chỉ ra sự sụt giảm nguồn vốn tự nhiên (đất nuôi trồng) được bù đắp bởi nguồn vốn vật chất (bờ kè, hạ tầng) và vốn tài chính (tiền đền bù), qua đó xác định điểm nghẽn chính nằm ở nguồn vốn con người (thiếu kỹ năng nghề).

Các hộ dân tại thị xã Sông Cầu đã sử dụng khoản kinh phí bồi thường 323,907 tỷ đồng như thế nào? Khảo sát thực tế cho thấy hơn 60,0% tổng số tiền bồi thường được người dân sử dụng để xây dựng nhà cửa kiên cố và mua sắm thiết bị sinh hoạt gia đình, khoảng 20,0% gửi tiết kiệm ngân hàng nhằm bảo toàn tài chính, và chỉ có khoảng 20,0% được tái phân bổ trực tiếp vào hoạt động mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc học nghề mới.

Những rào cản lớn nhất đối với lao động nuôi trồng thủy sản khi chuyển đổi việc làm là gì? Rào cản hàng đầu là cơ cấu tuổi tác và trình độ học vấn. Có tới hơn 60,0% người trong độ tuổi lao động đã trên 35 tuổi, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ đạt 27,0% và tỷ lệ qua đào tạo nghề đạt 14,0%, khiến đa số lao động khó đáp ứng các tiêu chuẩn tuyển dụng khắt khe của các doanh nghiệp công nghiệp.

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể nhân rộng sang các dự án hạ tầng ven biển khác như thế nào? Các địa phương có thể áp dụng mô hình phân tầng khảo sát 125 hộ vào giai đoạn chuẩn bị dự án để dự báo biến động việc làm. Đồng thời, việc kết hợp cơ chế định giá đất thị trường theo Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT và gói vay ưu đãi lãi suất dưới 5,0%/năm sẽ đảm bảo duy trì sinh kế ổn định cho người dân bị thu hồi đất.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện tác động kinh tế - xã hội của công tác thu hồi 146,70 ha đất nông nghiệp với tổng kinh phí bồi thường 323,907 tỷ đồng tại thị xã Sông Cầu giai đoạn 2011 - 2015.
  • Chứng minh quy luật chuyển dịch sinh kế: Nhóm hộ mất trên 50% diện tích đất đạt tỷ lệ chuyển đổi nghề 85,0%, trong khi nhóm mất dưới 30% diện tích đối mặt với nguy cơ sụt giảm thu nhập do duy trì phương thức sản xuất manh mún.
  • Ứng dụng thành công Khung phân tích sinh kế bền vững DFID trên mẫu khảo sát thực chứng 125 hộ dân tại hai xã Xuân Hòa và Xuân Bình để giải mã biến động 5 nguồn vốn sinh kế.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gồm định giá đất thực tế, đào tạo nghề cho 70,0% lao động, quy hoạch mặt bằng thương mại ven kè và cấp tín dụng ưu đãi dưới 5,0%/năm.
  • Cung cấp mô hình tham chiếu khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc triển khai Luật Đất đai 2013 và các dự án phòng chống thiên tai ven biển giai đoạn 2016 - 2020.

Để đảm bảo hiệu quả an sinh bền vững, các cấp chính quyền cần khẩn trương đưa các chính sách đào tạo nghề và bố trí mặt bằng kinh doanh vào thực tiễn quản lý. Quý bạn đọc, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm hãy tham khảo chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ Quản lý đất đai của tác giả Phan Ngọc Soa để khai thác trọn vẹn kho dữ liệu và phương pháp luận giá trị này.