phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng) Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2. Đặc điểm tai biến thiên nhiên xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Đánh giá tác động của tai biến thiên nhiên tới hoạt động sản xuất nông nghiệp xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về tai biến thiên nhiên 1. Khái niệm về tai biến thiên nhiên Tai biến thiên nhiên (natural hazard-H) là các hiện tƣợng tự nhiên cực đoan hoặc hiếm hoi có nguồn gốc khác nhau (khí tƣợng - thủy văn, địa chất - địa mạo, v.) xảy ra trên quy mô cũng rất khác nhau từ toàn cầu, khu vực cho đến cục bộ địa phƣơng, hoặc là khả năng có thể xảy ra một sự kiện cực đoan nào đó (động đất, lũ lụt, hạn hán, trƣợt đất, v.) có sức phá hoại tiềm ẩn trên một lãnh thổ nào đó.
Khi một hiện tƣợng tự nhiên có thể là mối đe dọa đối với đời sống hoặc tài sản của con ngƣời gọi là tai biến thiên nhiên [15]. Tai biến thiên nhiên trở thành tai họa khi gây ra sự phá hoại đáng kể đối với sự sống và tài sản của con ngƣời. Chẳng hạn, một trận lũ trung bình tràn lên bãi bồi sau mỗi chu kỳ vài năm thƣờng không gây ra điều phiền toái gì cả. Nhƣng khi có một trận lũ lớn tấn công, thì nó có thể dẫn đến tai họa làm chết ngƣời, mất tài sản, mất chỗ ở của nhiều ngƣời [15].
Tai biến thiên nhiên (natural hazard-H): Là hiện tƣợng cực đoan của tự nhiên khi vƣợt qua giới hạn, tác động lên khu vực nhạy cảm làm tổn thƣơng tới con ngƣời khi đó gọi là tai họa tự nhiên, tai họa diễn ra ở quy mô lớn và có sức tàn phá mạnh thì gọi là thảm họa (Catastrophe). Tai biến thiên nhiên là một dạng thiên tai có thể xảy ra ở một vùng, một khu vực nhất định nhƣ: (sấm, sét,.), hay một quốc gia (hạn hán, ngập lụt…) hoặc có thể cho toàn thế giới (Warming Global, En Nino, La Nina,…) sự đe dọa hoặc xác suất xảy ra của một hiện tƣợng có khả năng gây thiệt hại trong một khoảng thời gian nhất định và khu vực [15]. Phân loại tai biến thiên nhiên ở Việt Nam Tai biến thiên nhiên là thuật ngữ tƣơng đƣơng với hiểm họa tự nhiên và có thể chia làm 3 nhóm chính căn cứ theo nguyên nhân: a) Nhóm thứ nhất bao gồm hiểm họa có nguồn gốc từ khí quyển (mƣa, bão, lốc…); b) Nhóm thứ hai có nguồn gốc thủy quyển (lũ, ngập lụt…); c) Nhóm thứ ba có nguồn gốc địa quyển (trƣợt lở, sạt lở và động đất…). Các loại tai biến: Ngập lụt, hạn hán, bão, xâm nhập mặn là những tai biến khí tƣợng thủy văn đƣợc phân loại theo nguồn gốc phát sinh.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam đƣợc xem là nƣớc thƣờng xuyên xảy thảm họa thiên nhiên (Natural Disasters) gắn với các loại tai biến (Ngập lụt, hạn hán, bão, sƣơng mù, xói mòn, xâm nhâp mặn…. Theo nghiên cứu của đơn vị quản lý thiên tai (Disaster Management Unit – DMU), có thể phân ra theo mức độ liên quan đến tần suất xuất hiện thiên tai ở Vệt Nam nhƣ sau: Bảng 1. Mức độ các loại tai biến thiên nhiên ở Việt Nam Cao Trung bình Thấp Lũ lụt Mƣa lớn Động đất Bão Hạn hán Sƣơng mù Ngập lụt Trƣợt đất Xói mòn/bồi lắng Cháy Xâm nhập mặn Phá rừng Nguồn: [3] Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [3]: Theo dõi trong những năm gần đây có nhiều biểu hiện thiên tai và thời tiết cực đoan, không bình thƣờng theo những quy luật chung lâu nay vẫn có bao gồm: bão, ngập lụt, xâm nhập mặn, hạn hán…thƣờng diễn ra bất thƣờng, không theo quy luật nào. Ngập lụt, xâm nhập mặn, bão: Là các loại tai biến xuất hiện thƣờng xuyên hàng năm ở mức độ cao ở nƣớc ta.
Tuy nhiên hiện tƣợng tai biến xâm nhập mặn chỉ xuất hiện ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; bão và ngập lụt thƣờng xuyên xuất hiện với tần xuất cao ở khu vực bắc Trung bộ (Thanh Hóa, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế…). Trên cơ sở khảo sát thực tế thì luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các loại tai biến (ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, bão) gọi chung là thủy tai. Nhƣ vậy thủy tai là những hiện tƣợng tai biến liên quan tới thủy văn bao gồm (lũ lụt, lũ quét, mƣa lớn, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn…). Tuy nhiên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các loại tai biến (hạn hán, xâm nhập mặn, bão và ngập lụt).
Tác động của tai biến thiên nhiên tới hoạt động sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là ngành chịu thiệt hại nặng nề do tác động của các loại tai biến thiên nhiên cực đoan bao gồm: Tác động và gây ảnh hƣởng trực tiếp tới năng suất, sản lƣợng hầu hết các loại cây trồng, vật nuôi; ảnh hƣởng tới sinh trƣởng cây trồng, vật nuôi; suy giảm khả năng chống chịu bệnh tật của cây trồng, vật nuôi; tăng khả năng phát sinh các dịch bệnh làm cho cây trồng vật nuôi làm giảm năng suất, chất lƣợng sản phẩm; thay đổi thói quen sinh sản của vật nuôi; phá hủy khu vực trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thiệt hại mà các loại tai biến thiên nhiên tác động tới sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hàng năm trong giá trị ngành nông nhiệp chiếm tới 54,03% so với tổng thiệt hại trong GDP, giá trị nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp trong GDP nhƣng là nguồn sống của trên 70% dân số, do vậy thiệt hại nông nghiệp sẽ mang lại tổn thƣơng nhiều hơn đối với nông dân nghèo và khả năng phục hồi là rất khó khăn vì cần có thời gian dài. Thiệt hại trung bình hàng năm đối với nông nghiệp ở Việt Nam khoảng 781,764 tỷ đồng chiếm (11,6%) và thiệt hại giá trị đối với GDP là (0,67%) [3]. Các loại tai biến thiên ở Việt Nam và tác động tới sản xuất nông nghiệp 1.
Một số dạng tai biến thƣờng gặp ở Việt Nam a) Tai biến ngập lụt là một dạng của tai biến thiên nhiên: Nguyên do các dòng nƣớc có lƣu lƣợng lớn, động năng mạnh dị thƣờng, thƣờng diễn ra trong phạm vi các lòng dẫn của dòng chảy tự nhiên hay nhân tạo, hoặc mở rộng trên các địa hình trũng thấp kề cận các dòng chảy, với sức nƣớc có thể cuốn đi các vật cản tự nhiên nhƣ (đất, đá, cây cối) và các công trình nhân tạo của nhân dân (nhà cửa, cầu cống, đê đập…), phá hủy địa hình và đe dọa đến tính mạng con ngƣời. Dòng chảy này đi kèm sau các trận bão, mƣa lớn, tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động, tính chất có thể phân ra làm các loại tai biến khác nhau nhƣ (ngập lụt hoặc lũ quét). Lũ lụt (Flood): Bao hàm hai hiện tƣợng đi kèm nhau trong đó là lũ diễn ra trƣớc và lụt là hệ quả kéo theo và đƣợc giải thích: Khi nƣớc trong sông, hồ tràn qua đê hoặc gây vỡ đê làm cho nƣớc tràn vào các vùng đất đƣợc đê bảo vệ. Trong khi kích thƣớc của hồ hoặc các vực nƣớc có thể thay đổi theo mùa phụ thuộc vào giáng thủy hoặc tuyết tan, nó không có nghĩa là ngập lụt trừ khi lƣợng nƣớc này tràn ra gây nguy hiểm cho cho các vùng đất nhƣ làng, thành phố hoặc khu định cƣ khác.
Ngập lụt (inundation): Hiện tƣợng này là kết quả do mƣa lớn tại chỗ vƣợt quá khả năng thẩm thấu của đất và khả năng tiêu thoát nƣớc các con sông và vùng ven biển. Nguồn cung cấp cho ngập lụt có thể là do lũ, mƣa lớn, bão, triều cƣờng. Địa hình, hệ thống thủy văn và tính chất bề mặt sẽ liên quan tới khả năng thoát lũ, thiệt hại của các trận ngập lụt phụ thuộc vào thời gian và độ sâu ngập. Liên quan đến ngập lụt có nhiều khái niệm khác vì vậy trong giới hạn phạm vi luận văn này chỉ đề cập đến hiện tƣợng ngập lụt do sông liên quan đến mƣa lớn và kéo dài liên tục vƣợt qua khả năng tiêu thoát nƣớc của dòng chảy gây ra hiện tƣợng nƣớc tràn bề mặt nhấn chìm các vùng đất thấp ở các bài bồi sông.
Theo nguồn gốc phát sinh thì tai biến ngập lụt đƣợc xếp vào nhóm tai biến “Khí tƣợng – thủy văn”. Tuy nhiên hầu hết các loại tai biến ngập lụt đều liên quan trực tiếp tới hoạt động phá hủy địa hình. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các đặc điểm lũ: + Độ lớn lũ: là độ cao mà mực nƣớc sông dâng lên trong mùa lũ, xem nhƣ là lƣu lƣợng cực đại của dòng chảy trong trận lũ. + Lũ đƣợc phân biệt thành các loại: Phân loại lũ Đặc điểm Lũ nhỏ Đỉnh lũ thấp hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm Lũ vừa Đỉnh lũ đạt mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm Lũ lớn Đỉnh lũ cao hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm Lũ đặc biệt lớn Đỉnh lũ cao hiếm thấy trong thời kỳ quan trắc Lũ lịch sử Đỉnh lũ đạt mức đỉnh cao nhất trong thời kỳ quan trắc + Đỉnh lũ: Là mực nƣớc cao nhất quan trắc đƣợc trong một trận lũ tại một tuyến đo Hmax hoặc lƣu lƣợng nƣớc lớn nhất Qmax.
Đỉnh lũ của năm là đỉnh lũ đo đƣợc cao nhất trong năm, đỉnh lũ trung bình thời kỳ là trị số trung bình của các đỉnh lũ năm trong thời kỳ quan trắc. Đồ thị diễn tả một quá trình ngập lụt + Tần suất lũ: Là khoảng thời gian lặp lại (recurrence interval – RI), khoảng thời gian trung bình giữa các trận lũ có độ lớn nhật định, có quan hệ với xác suất xảy ra thông qua mối tƣơng quan theo công thức: 1/P = RI Ví nhƣ P = 0,01, nghĩa là khoảng thời gian lặp lại của nó là 100 năm. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy, có thể một nơi nào đó vừa trải qua một trận lũ lịch sử với chu kỳ hằng trăm năm, nhƣng vẫn có thể lặp lại vào vài năm tiếp theo. b) Hạn hán (drought): Hạn hán là hiện tƣợng lƣợng mƣa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lƣợng ẩm trong không khí và hàm lƣợng nƣớc trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nƣớc ao hồ, mực nƣớc trong các tầng chứa nƣớc dƣới đất gây ảnh hƣởng xấu đến sự sinh trƣởng của cây trồng, làm môi trƣờng suy thoái gây đói nghèo và dịch bệnh.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.