Chương 1 - Tổng quan về đề tài nghiên cứu: Giới thiệu lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; giới hạn nghiên cứu; và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu; Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày cơ sở lý thuyết về quản trị tri thức, sự hài lòng công việc và kết quả hoàn thành công việc nhân viên. Đồng thời trình bày mối quan hệ giữa quản trị tri thức - sự hài lòng công việc; sự hài lòng công việc – kết quả hoàn thành công việc nhân viên; quản trị tri thức - kết quả hoàn thành công việc nhân viên. Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này; Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Giới thiệu phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong bài, phương thức chọn mẫu, cỡ mẫu, cơ cấu mẫu và kết quả nghiên cứu định tính; Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả nghiên cứu định lượng và đưa ra kết luận cho các giả thuyết nghiên cứu. Đồng thời kết quả phân tích đa nhóm kiểm định xem có sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của tác động quản trị tri thức đến sự hài lòng và kết quả hoàn thành công việc của nhân viên ngân hàng ở các nhóm ngân hàng có tính chất sở hữu khác nhau và theo đặc điểm cá nhân khác nhau về giới tính nam – nữ của nhân viên; Chương 5 - Kết luận và hàm ý quản trị: Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đưa ra các hàm ý quản trị, cũng như đưa ra các hạn chế của đề tài nhằm đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo cho các nghiên cứu trong tương lai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm QTTT, sự hài lòng công việc, KQHTCV nhân viên và mối quan hệ giữa các khái niệm này. Bên cạnh đó, chương này sẽ xem xét các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó, phát thảo mô hình nghiên cứu và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu cho mô hình.1 Quản trị tri thức (Knowledge Management) 2.1 Tri thức Tri thức vẫn luôn được xem là một thuật ngữ trừu tượng và hiện nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về tri thức. Ngay từ các thế kỷ trước, các nhà triết học như Plato và Aristotle đã định nghĩa tri thức là niềm tin chân lý đã được xác thực.
Tri thức là thông tin có ý nghĩa và theo quan điểm của John Dewey ý nghĩa không phải là một chất lượng cố định gắn liền với một sự kiện cụ thể, mà khác nhau theo nhiều cách, theo đó sự kiện có thể ảnh hưởng tới hoạt động tương lai và sự chia sẻ nhận thức của chúng ta (Dewey, 1916; trích trong Nonaka và cộng sự, 2008). Chính tính chủ quan là yếu tố xác định mức độ ý nghĩa của thông tin. Nói cách khác, tri thức cần phải được đánh giá về giá trị để trở thành tri thức thật sự. Nonaka và Takeuchi (1995) kế thừa và tiếp tục phát triển định nghĩa này, với lập luận rằng “niềm tin” và “sự cam kết” là nguyên liệu chính tạo nên tri thức.
Spender (1996) bổ sung thêm rằng có tri thức hay sự hiểu biết cũng hàm ý việc cá nhân có thể tham gia vào quy trình biến tri thức trở thành có ý nghĩa. Theo Davenport và cộng sự (1998) định nghĩa tri thức là một tập hợp các kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo bối cảnh, và sự thấu hiểu giúp tạo ra một khuôn khổ để đánh giá và tích hợp các kinh nghiệm và thông tin mới. Nó bắt nguồn và được áp dụng trong tâm trí con người. Trong các tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các tài liệu, hay các kho tri thức mà còn được hàm chứa trong các quy trình, quy định, thông lệ, quy tắc hoạt động của tổ chức.
Tương tự Tarhini (2016) cũng cho rằng tri thức là sự pha trộn của các giá trị, kinh nghiệm và thông tin theo ngữ cảnh. Theo Bender và Fish (2000) thì tri thức bao gồm những dữ kiện, sự mô tả, thông tin, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm, đúc rút TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 kinh nghiệm và thông qua giáo dục. Theo Al-Alawi và cộng sự (2007) cho rằng tri thức được nằm trong tâm trí của con người được thể hiện qua hành động và hành vi của họ. Tri thức là một trạng thái của nhận thức, đối tượng, điều kiện truy cập, quy trình hay khả năng của con người (Champika và cộng sự, 2009).
Grant (1996) cho rằng tri thức chính là nguồn lực có tầm quan trọng chiến lược nhất mà tổ chức đang sở hữu. Năng lực động của tổ chức trong việc kết hợp tri thức bên trong và bên ngoài tổ chức là nguyên nhân tạo ra đổi mới sáng tạo của tổ chức (Kogut và Zander, 1992). Nhìn chung, Tri thức là kiến thức và kỹ năng, nằm trong tâm trí của con người được thể hiện qua hành động và hành vi của họ. Những kiến thức và kỹ năng có thể tồn tại dưới dạng thông tin, dữ kiện, kiến thức thu nhận từ quá trình đào tạo, học tập và kinh nghiệm đúc rút được từ thực tiễn, hay sự thấu hiểu giúp tạo ra một khuôn khổ để đánh giá và tích hợp các kinh nghiệm và thông tin mới, nó luôn thay đổi không ngừng theo thời gian và những bối cảnh của môi trường.
Trong các tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các kho tri thức, các tài liệu mà nó còn được hàm chứa trong các thông lệ, quy trình, quy định, quy tắc hoạt động của tổ chức.2 Nguồn tri thức Lý thuyết nguồn tri thức – lý thuyết phát triển từ lý thuyết nguồn lực của tổ chức – nhận định tri thức là nguồn lực chiến lược quan trọng của một tổ chức (Kianto và cộng sự, 2016). Quan điểm dựa trên tri thức đặt trọng tâm lớn trong nguồn nhân lực - những kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ và động cơ của những người làm việc cho một tổ chức, và cách mà họ sử dụng những kỹ năng, kiến thức này vì lợi ích của tổ chức (Crook và cộng sự, 2011; trích trong Kianto và cộng sự, 2016). Lý thuyết nguồn tri thức chỉ ra tri thức là nguồn lực đặc biệt tác động đến mọi nguồn lực khác. Tri thức kết hợp vận động tất cả các nguồn lực khác trong tổ chức để nguồn lực này trở nên có giá trị (Lee, 1991).
Spender (1996) gọi lý thuyết dựa trên tri thức là “nền tảng của một quan niệm mới xem tổ chức là một hệ thống năng động, tiến hóa, hầu như tự chủ trong quá trình sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 xuất và áp dụng tri thức”. Bản chất của tri thức với vai trò là một nguồn lực quản lý rất khác so với bản chất của nguồn lực vật chất. Thuộc tính của tri thức là những điều như: tri thức không mất giá trị khi được sử dụng bởi nhiều người, vì vậy nó là nguồn lực làm tăng thu nhập; tri thức vượt qua không gian và thời gian, dù ở hình thức vật thể, tài liệu hay truyền thống được truyền qua nhiều thế hệ, vì vậy nó là nguồn lực vô hạn; tri thức được sản xuất và tiêu dùng cùng lúc, làm cho quá trình sản xuất và tiêu dùng tri thức có tương quan với nhau và không thể tách rời; và giá trị của tri thức được sinh ra từ sự sáng tạo loại tri thức mới và từ sự kết hợp tri thức, tạo ra giá trị thông qua việc tái phân loại tri thức (Burton-Jones, 1999; trích trong Nonaka và cộng sự, 2008). Nói cách khác, trong khi những nguồn lực vật chất như vốn, nguyên vật liệu và công cụ sản xuất chỉ có thể được sử dụng bởi chủ sở hữu và bị hao mòn trong quá trình sử dụng thì tri thức không bị giảm về giá trị, có thể được tái sản xuất và chia sẻ bởi nhiều người sử dụng.
Không những thế, giá trị của những nguồn lực vật chất có thể gia tăng khi kết hợp với tri thức (Nonaka và cộng sự, 2008). Trong khi lý thuyết tổ chức quan tâm nhiều tới khó khăn để đạt được sự hợp tác giữa nhân viên và chủ sở hữu tổ chức bởi sự khác biệt về mục đích cần đạt tới giữa họ thì lý thuyết nguồn lực chỉ ra khả năng chuyển giao các nguồn lực và năng lực của một tổ chức là một nhân tố quan trọng về khả năng mà tổ chức có được lợi thế cạnh tranh bền vững (Barney, 1986; trích trong Hoàng Hải Yến, 2015). Liên quan đến tri thức, khả năng chuyển giao cũng là vấn đề quan trọng không chỉ giữa các tổ chức mà ngay cả trong một tổ chức. Việc kết hợp các tri thức chuyên biệt trong tổ chức là rất khó, Grant (1996) chỉ ra có thể sử dụng các cơ chế khác nhau để kết hợp tri thức chuyên biệt của các cá nhân trong một tổ chức, đó là tổ chức có thể sử dụng các hướng dẫn, quy ước, quy trình, quy định để kết hợp các tri thức chuyên biệt hoặc có thể kết hợp tri thức chuyên biệt khi để mỗi cá nhân tự điều chỉnh, phối hợp và hỗ trợ nhau nhằm hoàn thiện công việc chung của nhóm, bộ phận.
Tuy nhiên, mỗi cá nhân có một miền tri thức chuyên biệt. Vì vậy, họ phải phát hiện miền tri thức của đồng nghiệp nhằm biết được những người khác có kiến thức, kỹ năng gì và ở mức độ nào để có thể tự điều chỉnh và phối hợp. Khi các thành viên trong tổ chức thường xuyên thay đổi thì năng lực tổ chức phụ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 thuộc nhiều vào cơ chế tích hợp tri thức hơn là vào từng tri thức chuyên biệt mà các cá nhân có. Do đó việc gia tăng tri thức chung của tổ chức quan trọng hơn là tập trung vào tri thức chuyên biệt, dẫn đến các tổ chức nên thực hiện hoán đổi công việc, đào tạo chéo, để có sự tương tác và trao đổi thông tin nhiều hơn giữa các cá nhân.
Sự tích hợp tri thức với quy mô càng rộng thì khả năng đối thủ cạnh tranh bắt chước tri thức càng khó (Hoàng Hải Yến, 2015). Đặc biệt, lý thuyết nguồn tri thức đề cập đến bản chất của sự phối hợp giữa các bộ phận của tổ chức, đến cấu trúc tổ chức, đến chức năng của quản trị, đến mức độ tập quyền hay phân quyền khi ra quyết định; đến xác định giới hạn của tổ chức và lý thuyết sáng tạo (Porter-Liebskind, 1996; trích trong Hoàng Hải Yến, 2015).