CHƯƠNG 1. Sự cần thiết của đề tài: Khả năng thanh khoản là một trong những yếu tố quan trọng được các nhà đầu tư, các trái chủ và các tổ chức xếp hạng tín dụng doanh nghiệp quan tâm. Trong toàn bộ danh mục tài sản của doanh nghiệp thì tiền mặt được xem là tài sản lưu động có tính thanh khoản cao nhất. Do đó, tiền mặt có ảnh hưởng trực tiếp đến mức xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp cũng như giúp cho doanh nghiệp có sự linh động trong việc nắm bắt các cơ hội đầu tư tiềm năng.
Thế nhưng trên thực tế việc nắm giữ quá nhiều tiền mặt có thể khiến cho các nhà quản trị có những quyết định đầu tư khá dễ dãi không mang lại hiệu quả cao hoặc sẽ có những khoản chi tiêu quá đà gây ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Vì lẽ đó, các nhà đầu tư thường có xu hướng không đánh giá cao các doanh nghiệp có chính sách dự trữ quá nhiều tiền mặt. Vậy, dự trữ tiền mặt như thế nào là hợp lý để có thể đáp ứng các nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp đồng thời không ảnh hưởng đến quyền lợi cổ đông là một vấn đề cần giải quyết. Các nhà quản trị cần phải hoạch định một chính sách dự trữ tiền mặt hợp lý góp phần duy trì và hơn nữa là làm tăng giá trị công ty.
Theo nghiên cứu của A. Dittmar và các cộng sự (2003) thì các nhà quản trị doanh nghiệp thường có xu hướng thích nắm giữ tiền mặt nhiều hơn vì việc sử dụng tiền mặt dư thừa của công ty cho lợi ích cá nhân sẽ ít tốn kém chi phí hơn so với việc chuyển đổi các loại hình tài sản khác vào phục vụ những lợi ích cá nhân (Myers và Rajan, 1998; Papaionannou và các cộng sự,1992). Trong khi đó, quan điểm của các cổ đông nói chung về việc có cho phép doanh nghiệp thực hiện chính sách dự trữ nhiều tiền mặt hay không ngoài nhân tố quyết định như việc dựa vào các cơ hội đầu tư tiềm năng mà doanh nghiệp có thể có được thì tính hiệu quả của việc quản trị công ty đại chúng của doanh nghiệp cũng là một trong số những nhân tố quan trọng. Vì như ta đã biết luôn luôn có sự tồn tại của chi phí đại diện trong mối quan hệ giữa cổ đông và những 123doc 2 người trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp.
Và chi phí đại diện của dòng tiền tự do hầu như sẽ có khuynh hướng phát sinh thêm trong các doanh nghiệp đang có tình hình kinh doanh khả quan và có khả năng tạo ra thêm lợi nhuận nhưng không có nhiều những cơ hội đầu tư sinh lợi; nắm giữ quá nhiều tiền mặt trong trường hợp này có thể khiến các nhà quản trị doanh nghiệp đầu tư quá mức cần thiết và gây tổn hại đến lợi ích của các cổ đông (A. Dittmar và các cộng sự, 2003; Easterbrook, 1984; Jesen, 1986). Vậy làm thế nào để giảm thiểu chi phí đại diện? Để giảm thiểu chi phí đại diện các doanh nghiệp cần có một cơ chế quản trị công ty đại chúng hiệu quả. Một khi doanh nghiệp có cơ chế quản trị công ty đại chúng hiệu quả giúp giảm thiểu được chi phí đại diện, các cổ đông sẽ bớt đi nỗi lo sợ rằng khi các nhà quản trị nắm giữ quá nhiều tiền mặt sẽ dễ sa vào vấn đề đầu tư dàn trãi, chi tiêu bừa bãi gây thất thoát tài sản của doanh nghiệp và sẽ cảm thấy yên tâm hơn với chính sách dự trữ nhiều tiền mặt của doanh nghiệp.
Từ đó, các nhà quản lý sẽ dễ dàng đưa ra chính sách dự trữ nhiều tiền mặt phục vụ cho các khoản đầu tư nhằm tăng lợi nhuận trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp mà không vấp phải sự phản đối từ phía các cổ đông. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu: Trọng tâm của đề tài này là nghiên cứu liệu hiệu quả hoạt động quản trị công ty đại chúng có thực sự tác động đến chính sách dự trữ tiền mặt của các công ty cổ phần tại Việt Nam hay không? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách phân tích hồi quy dữ liệu thu thập từ các bảng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong mẫu gồm các công ty cổ phần được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012. 123doc 3 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT: Quản trị công ty đại chúng tốt là một nhân tố quan trọng góp phần giúp cho các nhà đầu tư yên tâm tin tưởng vào khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, góp phần nâng cao giá trị của doanh nghiệp. Quản trị công ty đại chúng được định nghĩa là một tập hợp các tiến trình, tập quán, chính sách, pháp luật và các thể chế có ảnh hưởng đến việc chỉ đạo và kiểm soát doanh nghiệp (Rouf, 2011). Theo Kajola (2008), việc kinh doanh của doanh nghiệp được quản lý dưới sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị những người sẽ ủy quyền cho các CEO và các cấp quản lý khác trực tiếp quản lý công việc kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Các giám đốc với kinh nghiệm dồi dào của mình sẽ chỉ đạo công việc kinh doanh của doanh nghiệp với một sự nhất quán cao, tận tâm với doanh nghiệp, các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và giá trị dài hạn của các cổ đông.
Đó chính là cơ sở để các cổ đông, các nhà đầu tư tin rằng một cơ chế quản trị công ty đại chúng hiệu quả sẽ có thể bảo vệ được lợi ích của cổ đông, góp phần giảm thiểu chi phí đại diện khiến cho họ có lòng tin rằng ban giám đốc điều hành doanh nghiệp có đủ khả năng điều hành công ty hiệu quả mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp và nhờ vậy các cổ đông sẽ dễ dàng chấp nhận các chính sách dự trữ tiền mặt cao của các nhà quản lý. Lý thuyết cho rằng khoản tiền mặt dự trữ của doanh nghiệp sẽ cho phép các nhà quản lý linh động hơn trong việc ra quyết định đầu tư, tuy nhiên lượng tiền mặt dự trữ sẽ được các cổ đông bên ngoài đánh giá theo hai hướng sau: (1) Liệu dự trữ tiền mặt ít có làm hạn chế khả năng thực hiện các dự án đầu tư mang lại NPV dương của các nhà quản trị có tầm nhìn tốt (Myers, 1984; Myers và Majluf, 1984). Một số quan điểm về mối quan hệ giữa quản trị công ty đại chúng và chính sách dự trữ tiền mặt của các doanh nghiệp như sau: Chi phí đại diện của dòng tiền tự do có nhiều khả năng phát sinh trong các công ty đang có lợi nhuận nhưng có cơ hội đầu tư hạn chế - một tình huống trong đó nắm giữ tiền mặt dư thừa có thể khiến các nhà quản lý đầu tư vượt mức và do đó làm tổn hại đến lợi ích của cổ đông (A. Dittmar và cộng sự, 2003; Easterbrook, 1984).
Lý thuyết chi phí đại diện cho thấy nhà quản lý cố hữu muốn giữ tiền mặt hơn là chia cổ tức cho các cổ đông, và nắm giữ tiền mặt cao có thể dẫn đến các vấn đề về đại diện (chi phí đại diện) của dòng tiền tự do (Dittmar và cộng sự, 2003;. Jensen (1986) cho rằng những mâu thuẫn về lợi ích giữa cổ đông và các nhà quản trị (chi phí đại diện) sẽ có thể gia tăng nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt. Jensen (1986) và Stulz (1990) phát triển giả thuyết dòng tiền tự do, dự đoán rằng cổ đông sẽ hạn chế quyền tiếp cận của người quản lý đến dòng tiền tự do với mục đích làm dịu bớt những xung đột về chi phí đại diện. Một doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tăng trưởng nên dự trữ nhiều tiền mặt nếu không muốn phải từ bỏ các cơ hội đầu tư mang lại giá trị cao cho doanh nghiệp (A.
Tuy nhiên, những doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư sinh lợi nói trên lại thường phải đối mặt với nguy cơ kiệt quệ tài chính cao hơn các doanh nghiệp khác (Haris và Raviv, 1991; Shleifer và Vishny, 1993). Faleye (2004) chỉ ra rằng xung đột đại diện gia tăng khi các doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt và khi đó các nhà quản trị doanh nghiệp thường bị 123doc 5 mất việc khi những cuộc xung đột như thế xuất hiện. Chính sách dự trữ tiền mặt là những quyết định dựa trên ý chí của các nhà quản lý, mức độ dự trữ tiền mặt làm gia tăng lo ngại về chi phí đại diện của dòng tiền khi các nhà quản lý thực hiện những quyết định trong thẩm quyền của họ không vì lợi ích tốt nhất cho doanh nghiệp, nhất là trong các doanh nghiệp mà các chủ sở hữu có ít quyền quản lý. Myers và Rajan (1998) cho rằng các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp có thể tranh thủ được nhiều lợi ích cho bản thân hơn từ các loại tài sản có thanh khoản cao.
Mahrt-Smith (2007) cho rằng một doanh nghiệp có cơ chế quản trị công ty đại chúng yếu kém dự trữ càng nhiều tiền mặt thì có hiệu quả hoạt động sẽ thấp hơn. Lins (2007) cho rằng khi quyền lợi của các cổ đông bên ngoài càng ít được bảo vệ thì các doanh nghiệp có hiệu quả quản trị thông tin đại chúng kém có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn. Sau đó, Harford và các cộng sự (2007) thì cho rằng các doanh nghiệp có hệ thống quản trị kém được kỳ vọng sẽ có chính sách dự trữ ít tiền mặt, thực tế lại dự trữ khá nhiều tiền mặt và chi tiêu khá nhanh chóng cho các quyết định thôn tính. Một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị công ty đại chúng và chính sách dự trữ tiền mặt của các doanh nghiệp như sau: 123doc 6 Bằng chứng từ các nghiên cứu ở nhiều nước khác nhau cho thấy rằng với quyền lợi cổ đông càng cao thì nguồn dự trữ tiền mặt càng thấp (A.
Dittmar và các cộng sự, 2003; I. Lins, 2007; Pinkowitz, Stulz, và Williamson, 2004). Kim và các cộng sự (1998) nghiên cứu chính sách dự trữ tiền mặt của các doanh nghiệp tại Mỹ cho thấy các doanh nghiệp dự trữ nhiều tiền mặt sẽ đối mặt với chi phí tài chính gia tăng, thu nhập bất ổn hơn và những doanh nghiệp có ROA thấp hơn thường nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao hơn.