CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về biến động sử dụng đất 1. Khái niệm về biến động sử dụng đất Biến động là bản chất của mọi sự vật, hiện tượng, động lực của mọi sự biến động đó là quan hệ tương tác giữa các thành phần của tự nhiên, KT-XH. Như vậy để khai thác tài nguyên đất đai của một khu vực có hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này và không làm suy thoái môi trường tự nhiên thì nhất thiết phải nghiên cứu biến động của đất đai.
Sự biến động đất đai do con người sử dụng vào các mục đích KT- XH có thể phù hợp hay không phù hợp với quy luật của tự nhiên, cần phải nghiên cứu để tránh việc SDĐ đai có tác động xấu tới môi trường sinh thái. Nghiên cứu biến động tình hình SDĐ là xem xét quá trình thay đổi của diện tích đất đai thông qua thông tin thu thập được theo thời gian để tìm ra quy luật và những nguyên nhân thay đổi từ đó có biện pháp sử dụng đúng đắn với nguồn tài nguyên này. Đánh giá biến động tình hình SDĐ, vấn đề trước tiên là phải làm rõ cơ sở của việc SDĐ đai và chức năng cho từng loại hình SDĐ: - Việc SDĐ dựa trên tính chất đất đai (độ dốc, độ dày, độ phì), tập quán canh tác truyền thống, tác động thị trường. - Chức năng cho từng loại hình sử dụng: nông nghiệp, phi nông nghiệp.
Những đặc trưng của biến động sử dụng đất 1. Quy mô biến động: - Biến động về diện tích SDĐ nói chung. - Biến động về diện tích của từng loại hình SDĐ. - Biến động về đặc điểm của những loại đất chính.
Mức độ biến động: Mức độ biến động thể hiện qua số lượng diện tích tăng hoặc giảm của các loại hình SDĐ giữa đầu thời kỳ và cuối thời kỳ nghiên cứu. Mức độ biến động được xác định thông qua việc xác định diện tích tăng, giảm và số phần trăm tăng, giảm của từng loại hình SDĐ giữa cuối và đầu thời kỳ đánh giá. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Xu hướng biến động: − Xu hướng biến động thể hiện theo hướng tăng hoặc giảm của các loại hình SDĐ.
− Xu hướng biến động theo hướng tích cực hay tiêu cực. Những nhân tố gây nên sự biến động tình hình SDĐ: Các yếu tố tự nhiên là cơ sở quyết định cơ cấu SDĐ vào các mục đích KT-XH, bao gồm các yếu tố sau: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật. Các yếu tố KT-XH có tác động lớn đến sự thay đổi diện tích các loại hình SDĐ, bao gồm các yếu tố sau: - Sự phát triển các ngành kinh tế như: dịch vụ, xây dựng, giao thông và các ngành kinh tế khác. - Sự phát triển của dân số.
- Các dự án đầu tư phát triển kinh tế. - Thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá. Ý nghĩa thực tiễn của việc đánh giá biến động sử dụng đất Đánh giá biến động tình hình SDĐ có ý nghĩa rất lớn đối với việc SDĐ. Việc đánh giá biến động của các loại hình SDĐ, là cơ sở khai thác tài nguyên đất đai phục vụ các mục đích KT-XH có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái.
Mặt khác, khi đánh giá biến động tình hình SDĐ cho ta biết được nhu cầu SDĐ giữa các ngành KT-XH, an ninh quốc phòng. Dựa vào vị trí địa lý, diện tích tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của khu vực nghiên cứu, từ đó biết được sự phân bố giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế và biết được những điều kiện thuận lợi khó khăn đối với nền KT-XH và biết được đất đai biến động theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, để từ đó đưa ra những phương hướng phát triển đúng đắn cho nền kinh tế và các biện pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái. Do đó đánh giá biến động tình hình SDĐ có một ý nghĩa hết sức quan trọng, là tiền đề, cơ sở đầu tư và thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, để phát triển đúng hướng, ổn định trên tất cả mọi lĩnh vực KT-XH và sử dụng hợp lý tài nguyên. Cơ sở khung đánh giá tác động của mực nước biển dâng Một khung công việc chung do Nicholl và các cộng sự (2003,2006), Smit và 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cộng sự (2001) đề xuất giúp cho việc đánh giá tác động của mực NBD được rõ ràng [34,35,36].
NBD với bất kỳ lý do nào cũng gây ra những tác động sinh - địa lý như mất đất, tăng khả năng xói mòn và lũ lụt. Tiếp theo, những tác động này sẽ gây ra những tác động trực tiếp hay gián tiếp đến KT-XH phụ thuộc vào tình trạng không được bảo vệ trước nguy hiểm của con người đối với những thay đổi này. Cũng có phản hồi quan trọng khi hệ thống bị tác động tự điều chỉnh và thích ứng với thay đổi, bao gồm việc con người tận dụng thay đổi có ích và thích ứng với thay đổi có hại. Vì vậy, hệ thống ven biển được xác định tốt nhất là trong sự tương tác giữa hệ thống tự nhiên và KT-XH.
Tất cả các hệ thống đều có sự tương tác và người ta có thể chỉ ra những cách thích ứng và điểu chỉnh khác nhau (Smit và các cộng sự, 2001). Cách thích ứng tư đông (hay tự phát) đại diện cho sự ứng phó tự nhiên đối với NBD (ví dụ: tăng sự bồi lắng theo chiều dọc của vùng đất ngập nước ven biển trong thiên nhiên hay điều chỉnh giá thị trường trong hệ thống KT-XH). Quá trình tự động này thường ít được nhận thức tuy nhiên lại có ảnh hưởng đáng kể đến phạm vi của nhiều tác động. Hơn nữa, quá trình điều chỉnh tự động này thường bị giảm hay dừng lại bởi những áp lực phi khí hậu gây ra bởi con người (Bijlsma và các cộng sự, 1996) [21].
Thích ứng có kể hoach (chắc chắn phải từ hệ thống KT-XH) có thể giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương thông qua một loạt các biện pháp. Tác động qua lại giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống KT-XH tại khu vực ven biển bao gồm những tác động của hệ thống tự nhiên đến hệ thống KT-XH và những thích ứng có kế hoạch của hệ thống KT-XH đến hệ thống tự nhiên. Điều này khiến hệ thống tự nhiên và hệ thống KT-XH tương tác với nhau theo một cách rất phức tạp. Những thích ứng và điều chỉnh không đổi xảy ra trong và giữa các hệ thống như thường lệ sẽ làm giảm độ lớn tác động tiềm năng, điều sẽ xảy ra nếu thiếu thích ứng và điều chỉnh.
Vì vậy, những tác động thực sự thường nhỏ hơn rất nhiều so với những tác động tiềm năng nếu quá trình ước tính bỏ qua sự thích ứng (trừ trường hợp thích ứng không hiệu quả (Smit và các cộng sự, 2001)). Đánh giá tác động mà không tính đến các biện pháp thích ứng nói chung sẽ đánh giá quá cao các tác động (tức là tính tác động tiềm năng chứ không phải là tác động thật sự). 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khả năng tự thích ứng Tính nhạy cảm tự Khả năng thích ứng tự nhiên nhiên Khả năng thích ứng theo kế hoạch Tính tổn thương tự Các áp lực nhiên không liên quan đến khí hậu Cácảnh hưởng sinh- HỆTHỐNGTỰNHIÊN địa-vật lý Khả năng tự thích ứng NBD và các Sự nhạy cảm của KT- Khả năng thích ứng thay đổi khí XH KT-XH hậu khác Khả năng thích ứng theo kế hoạch Tính nhạycảmkinh tế-xã hội Cácảnh hưởngkhác HỆTHỐNG KT-XH Hình 1.1: Khung lý thuyết đánh giá tính dễ bị tổn thương và các tác động do NBD Theo Hướng dẫn kỹ thuật của IPCC [28] về đánh giá tác động của BĐKH và Thích ứng, khung chung để thực hiện một bản đánh giá tác động gồm bảy bước: Xác định vấn đề Lựa chọn phương pháp Kiểm tra phương pháp/độ nhạy cảm Lựa chọn kịch bản Đánh giá tác động sinh-lý, KT-XH Đánh giá sự điều chỉnh tự động Đánh giá các chiến lược thích nghi Hình 1.2: Các bước đánh giá tác động do NBD 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm bước đầu được coi là phổ biến đối với hầu hết các nghiên cứu. Bước 6, 7 thì xuất hiện ít hơn.
Các bước được làm liên tục nhau nhưng khung này cũng cho phép lặp lại ở một số bước. Ở mỗi bước, một loạt các phương pháp nghiên cứu được sử dụng. 1) Bước l: Xác định vấn đề Bước này bao gồm xác định mục đích của việc đánh giá, những đối tượng quan tâm, phạm vi thời gian và không gian của nghiên cứu, những dữ liệu cần thiết. 2) Bước 2: Lựa chọn phương pháp Có thể lựa chọn rất nhiều phương pháp phân tích tò mô tả định tính thông qua đánh giá dự đoán hoặc bán định lượng cho tới phân tích định lượng và dự đoán.
Bất kì bản đánh giá tác động nào cũng đều có thể sử dụng một hay nhiều hơn trong những phương pháp này. Có 4 phương pháp chung là: thực nghiệm, dự đoán tác động, nghiên cứu dựa trên những kinh nghiệm tương tự và phỏng vấn chuyên gia. 3) Bước 3: Kiểm tra phương pháp Sau khi lựa chọn phương pháp đánh giá, việc kiểm tra các phương pháp nhằm chuẩn bị cho nhiệm vụ tính toán là rất quan trọng. Ba hoạt động sau có thể là rất hữu ích trong việc kiểm tra phương pháp: nghiên cứu tính khả thi, những số liệu thu được và kiểm tra mô hình.
4) Bước 4: Lưa chon kịch bản Lựa chọn kịch bản NBD từ đó đánh giá tác động tiềm năng của NBD theo kịch bản đó đến khu vực nghiên cứu. 5) Bước 5: Đánh giá tác động Những tác động được ước tính dựa trên sự khác nhau dữa hai trạng thái: các điều kiện môi trường và KT-XH tồn tại trong suốt giai đoạn đánh giá nếu không có NBD và những điều kiện đó khi có NBD. Việc đánh giá có thể bao gồm: • Mô tả định tính Khả năng thành công của phương pháp này phụ thuộc vào kỹ năng và kinh nghiệm của người phân tích, đặc biệt khả năng cân nhắc tất cả các yếu tố quan trọng và mối tương quan của chúng. Cũng đã có phương pháp tổ chức các thông tin định tính ví dụ như phân tích tác động chéo.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com • Các chỉ sổ của sự thay đổi Có những khu vực, hoạt động hoặc cơ quan cụ thể rất nhạy cảm với NBD và có thể cung cấp những dấu hiệu tác động sớm và chính xác do NBD.