CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1.1 Bối cảnh thế giới Trong những thập niên gần đây, các nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm đã tập trung tìm hiểu về vai trò và tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) đối với nước tiếp nhận. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra khá nhiều bằng chứng ghi nhận các đóng góp và ảnh hưởng tích cực của FDI đến doanh nghiệp và nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư (Jayachandran & Seilan, 2010). Nhìn chung, tác động của FDI đến nước tiếp nhận diễn ra theo hai kênh: trực tiếp và gián tiếp. Thứ nhất, thông qua việc thực hiện các hợp đồng liên doanh liên kết hay xây dựng mới cơ sở sản xuất tại nước tiếp nhận, doanh nghiệp FDI tạo ra ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế nước tiếp nhận bằng việc bổ sung cho nguồn vốn đầu tư trong nước; đóng góp nguồn thu ngân sách; tạo ra công ăn việc làm; chuyển giao công nghệ và kỹ thuật hiện đại.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp FDI cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Thứ hai, doanh nghiệp FDI còn tạo ra những tác động gián tiếp hay hiệu ứng lan tỏa (spillovers/externalities) đến doanh nghiệp và kinh tế địa phương thông qua những mối liên kết giữa hai nhóm doanh nghiệp này khi cùng hoạt động trong một khu vực lãnh thổ xác định. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các công ty đa quốc gia (Multinational Enterprises – MNEs), vốn được xem là có tiềm lực tài chính và ưu thế vượt trội về công nghệ, nhân lực, kinh nghiệm quản lý và marketing so với các doanh nghiệp bản địa ở các nước đang phát triển. Vì vậy, qua quá trình tương tác và học hỏi từ các doanh nghiệp nước ngoài thì doanh nghiệp trong nước có thể từng bước cải thiện, nâng cao năng suất hoạt động, năng lực công nghệ và khả năng cạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 tranh trong thị trường trong nước cũng như thị trường xuất khẩu, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Trong khi lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển (Solow, 1956; Todaro, 1997) xem FDI là kênh cung cấp vốn quan trọng thì lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Romer, 1986; Lucas, 1988) nhấn mạnh vai trò và ảnh hưởng dài hạn của hiệu ứng lan tỏa từ FDI đến nền kinh tế nước tiếp nhận. Doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, thường có ưu thế vượt trội về trình độ công nghệ và kinh nghiệm tham gia thị trường quốc tế để có thể vượt qua những rào cản khi gia nhập thị trường mới và cạnh tranh thành công với các doanh nghiệp bản địa vốn có nhiều kiến thức và liên kết tại thị trường trong nước (Graham & Krugman, 1995). Sự hiện diện của doanh nghiệp FDI với nhiều lợi thế có thể gián tiếp tạo ra tác động tích cực và lâu dài đến năng lực công nghệ và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước thông qua quá trình tương tác trong khu vực địa lý nhất định. Về mặt khái niệm, tác động lan tỏa được định nghĩa là những ngoại tác động (dynamic externalities) về thông tin xuất phát từ những tương tác có chủ đích hay không có chủ đích giữa các chủ thể kinh tế theo thời gian (Rosenbloom & Marshallian, 1990).
Tác động lan tỏa từ FDI diễn ra khi doanh nghiệp FDI gặp khó khăn để bảo vệ những tài sản chuyên biệt của mình như công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, bí quyết công nghệ và quản trị, kỹ năng marketing, cơ sở dữ liệu về khách hàng, và khả năng tiếp cận thị trường,…, và những tài sản này bị rò rỉ ra bên ngoài và từ đó doanh nghiệp trong nước tiếp thu được (Caves, 1996). Thêm vào đó, doanh nghiệp FDI cũng có thể chủ động chia sẻ thông tin và chuyển giao công nghệ với các doanh nghiệp trong nước là khách hàng hay nhà cung ứng của mình (Görg & Greenaway, 2004). Thông qua khả năng rò rỉ, phát tán và chia sẻ thông tin mang tính thụ động và/hoặc chủ động này mà FDI có thể gián tiếp nâng cao trình độ công nghệ và năng suất sản xuất (tạo ra TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 tác động lan tỏa công nghệ) hay tăng cường năng lực xuất khẩu (tạo ra tác động lan tỏa xuất khẩu) của các doanh nghiệp trong nước. Tác động lan tỏa từ FDI đến doanh nghiệp trong nước có thể diễn ra đối với các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành (lan tỏa chiều ngang) hay khác ngành (lan tỏa chiều dọc) (Blomstrom & Kokko, 1998).
Trong đó, lan tỏa chiều dọc xuất phát từ các liên kết công nghiệp khi doanh nghiệp FDI trở thành khách hàng (liên kết ngược) hoặc nhà cung ứng (liên kết xuôi) của doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp trong nước có thể nâng cao năng lực công nghệ và năng lực xuất khẩu thông qua quá trình quan sát và học hỏi kiến thức, kinh nghiệm và kỹ thuật từ doanh nghiệp FDI; tuyển dụng lao động đã qua đào tạo tại doanh nghiệp FDI; hay tự cải tiến, đổi mới công nghệ do áp lực cạnh tranh từ doanh nghiệp FDI (Blomström & Sjöholm, 1999; Javorcik, 2004; Newman & cộng sự, 2014, 2015). So với các tác động trực tiếp, tác động gián tiếp hay lan tỏa của FDI là hướng nghiên cứu khá mới và nhận được sự quan tâm ngày càng gia tăng của giới học thuật, các nhà nghiên cứu cũng như nhà hoạch định chính sách trong thời gian gần đây. Doanh nghiệp FDI thường sở hữu những ưu thế vượt trội, đặc biệt là về công nghệ, tài chính và kinh nghiệm tham gia thị trường quốc tế, nhờ đó có thể tạo ra chất xúc tác mang đến những chuyển đổi tích cực cho các doanh nghiệp trong nước.
Những tác động gián tiếp hay “lan tỏa” này được kỳ vọng là diễn ra với quy mô lớn hơn nhiều so với các tác động trực tiếp. Khác với những tác động trực tiếp vốn mang tính ‘hữu hình’ có thể dễ dàng được đánh giá phân tích qua các phân tích định lượng; các tác động lan tỏa lại mang tính ‘vô hình’ nên thường khó nhận biết và đo lường hơn. Đây có thể là một lý do khiến cho đề tài nghiên cứu này có sức hút lớn đối với các nhà nghiên cứu; mặt khác giải thích cho những kết quả thực nghiệm đa dạng và thậm chí là trái chiều về các hiệu ứng lan tỏa. Một số nghiên cứu đã cho thấy tác động lan tỏa tích cực từ FDI như Caves (1974); TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tuy nhiên, một số tác giả khác lại chứng minh được rằng FDI không tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thậm chí còn tạo ra lan tỏa tiêu cực đến doanh nghiệp và nền kinh tế trong nuớc do áp lực cạnh tranh gia tăng và khả năng hấp thụ lan tỏa thấp của doanh nghiệp trong nước (Aitken & Harrison, 1999; Sadik & Bolbol, 2001; Ruane & Sutherland, 2005). Do vậy, các bằng chứng thực nghiệm về lan tỏa từ FDI cần được bổ sung nhằm củng cố các lập luận của tác động lan tỏa khi mà các kết quả nghiên cứu ban đầu chưa có xu hướng thống nhất cao. Ngoài ý nghĩa về mặt học thuật, nghiên cứu về các tác động lan tỏa của FDI còn mang nhiều giá trị và hàm ý về mặt chính sách. Thực tế cho thấy sự cạnh tranh gia tăng giữa chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển trong chính sách thu hút dòng vốn FDI.
Ưu đãi về tài chính (đặc biệt là thuế), thuê đất hoặc thuê mặt bằng, cải cách hải quan, tạo môi trường pháp lý thông thoáng được xem là những chính sách phổ biến và hiệu quả nhằm mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài. Mục tiêu cuối cùng của các chính sách này là nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI. Do vậy, kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các tác động lan tỏa sẽ cung cấp cơ sở để có thể đánh giá toàn diện và chính xác hơn về các chính sách thu hút và sử dụng FDI; đồng thời gợi ý và đề xuất các giải pháp chính sách cụ thể nhằm tối đa hóa các lan tỏa tích cực và giảm thiểu các lan tỏa tiêu cực để từ đó đóng góp hiệu quả cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.2 Bối cảnh Việt Nam Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 và các luật sửa đổi bổ sung (năm 1990, 1992, 1996, 2000, 2005, 2014), Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý tương đối đồng bộ, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Theo Tổng cục Thống kê (TCTK, 2016), tổng số vốn FDI đăng ký đã tăng từ 735 triệu USD (năm 1990) lên đến 281,9 tỷ USD (năm 2015).
Số dự án đăng ký cũng nhảy vọt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 từ 211 dự án (cho cả giai đoạn 1988-1990) lên 2,120 (năm 2015)1. Việt Nam đã và đang không ngừng nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong thu hút FDI, đặc biệt trong bối cảnh suy giảm đầu tư trên toàn thế giới do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Khu vực FDI là khu vực phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam (Nguyễn Thị Cành & Trần Hùng Sơn, 2009; Nguyễn Thị Thìn, 2009). Các số liệu từ Tổng cục Thống kê cũng cho thấy đóng góp của FDI cho đầu tư phát triển xã hội tăng từ 16% giai đoạn 2001-2005 lên gần 24% giai đoạn 2006-2015 (TCTK, 2016).
Ngoài ra, FDI cũng giữ vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tỷ trọng nông nghiệp từ 80% (năm 1988) xuống chỉ còn 17% (2015). Về đóng góp cho nguồn thu ngân sách, tỷ trọng của khu vực FDI tăng từ 5. Với thị trường lao động, các doanh nghiệp FDI đã trực tiếp tạo ra việc làm cho một lượng lớn lao động trong nước với mức tăng từ 358,5 nghìn lao động (năm 2000) lên 4,2 triệu lao động (năm 2015) và giúp tạo hàng triệu lao động gián tiếp khác (TCTK, 2016). Đáng chú ý là năng suất lao động khu vực FDI cao nhất trong các khu vực kinh tế khi mà chỉ với 4% trong tổng số lao động trong nền kinh tế nhưng khu vực này tạo ra 20% GDP.
Hơn thế nữa, khu vực FDI có vai trò đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam.