phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc gồm 3 chƣơng, 8 tiết: Chƣơng 1: Phát triển bền vững nông thôn trong quá trình phát triển các khu công nghiệp. Chƣơng 2: Thƣ̣c tra ̣ng tác động của các khu công nghiệp đến phát triển bền vững nông thôn ở tỉnh Viñ h Phúc. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển bền vững nông thôn trong quá trình phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc. 5 Chƣơng 1 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN LÀ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH CHIẾN LƢỢC Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 1. Quan niệm về phát triển bền vững Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và đã ghi lại những dấu ấn đậm nét tƣơng ứng với từng hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi hình thái kinh tế xã hội muốn phát triển đều phải tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng đòi hỏi xã hội phải đạt trình độ năng suất lao động vƣợt ngƣỡng của sản phẩm tất yếu và tạo ra sản phẩm thặng dƣ ngày càng nhiều.
Sản phẩm thặng dƣ là nguồn gốc để tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng. Vì thế tái sản xuất mở rộng là loại hình đặc trƣng phổ biến của những xã hội có nền kinh tế phát triển, năng suất lao động xã hội đạt đến trình độ cao. Trong bất cứ xã hội nào, quá trình tái sản xuất cũng gồm bốn nội dung đó là: tái sản xuất ra của cải vật chất; tái sản xuất ra sức lao động; tái sản xuất quan hệ sản xuất; tái sản xuất môi trƣờng sinh thái. Xã hội nào mà không thực hiện đầy đủ, cân đối bốn nội dung trên thì tất yếu xã hội đó sẽ khó có thể đảm bảo tái sản xuất bền vững ở các giai đoạn tiếp theo.
Đến thế kỷ thứ XX, khi cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã bùng nổ, chất lƣợng cuộc sống của xã hội loài ngƣời đã có những bƣớc tiến rõ rệt do khoa học, công nghệ và năng suất lao động xã hội mang lại. Của cải đƣợc nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú về chủng loại đã phần nào thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con ngƣời, đã đƣa tới sự phát triển nhanh của nền văn minh nhân loại. Song cũng chính từ sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm nhƣ tăng dân số quá nhanh, 6 tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên, năng lƣợng, thiên tai, bão lũ, ô nhiễm và sự cố môi trƣờng ngày càng gia tăng đã làm ảnh hƣởng đến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đến phát triển kinh tế và làm giảm sút chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời. Đứng trƣớc áp lực của thực tế khắc nghiệt này, con ngƣời không còn cách lựa chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của mình với thiên nhiên, phƣơng sách phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển của mình.
Vấn đề bức xúc là con ngƣời phải tìm ra một con đƣờng phát triển mà trong đó các vấn đề dân số, kinh tế xã hội, tài nguyên và môi trƣờng đƣợc xem xét một cách tổng thể, nhằm hạn chế những tác động cản trở đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Cách lựa chọn duy nhất đó là con đƣờng phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trƣờng, đó chính là con đƣờng PTBV. Vào nửa cuối của thế kỷ XX, Liên hợp quốc đã đƣa ra ý tƣởng về PTBV. Theo quan điểm của Liên hợp quốc thì một xã hội bền vững sẽ không sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái tạo (đất, nƣớc, sinh vật…) nhanh hơn khả năng tự tái tạo của chúng; sẽ không sử dụng các nguồn tài nguyên không thể tái tạo (khoáng sản, nhiên liệu…) nhanh hơn quá trình tìm ra những loại thay thế chúng.
Nhƣ vậy, PTBV là sự phát triển lành mạnh, tồn tại lâu dài, vừa đáp ứng đƣợc nhu cầu hiện tại, vừa không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ tƣơng lai. Phát triển ý tƣởng của Liên hợp quốc, Uỷ ban quốc tế về Phát triển và Môi trƣờng (1987) đã đƣa ra định nghĩa: PTBV là một quá trình của sự thay đổi, trong đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật, và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người [5]. Hội nghị thƣợng đỉnh về Trái đất năm 1992 ở Rio de Janeiro đã đƣa ra khái niệm vắn tắt về PTBV và đƣợc sử dụng một cách chính thức trên quy mô 7 quốc tế đó là: PTBV là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trƣờng.
Trong đó sự phát triển kinh tế là nguồn gốc, là động lực, sự phát triển xã hội là mục tiêu và sự phát triển môi trƣờng là điều kiện của PTBV [5].1: Quan điểm ba cực trong phát triển bền vững Nguồn: Minh hoạ của tác giả từ [19] Nhƣ vậy, PTBV gồm có 3 nội dung cơ bản đó là: Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hoà giữa mục tiêu tăng trƣởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trƣởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ, đặc biệt chú trọng công nghệ sạch. Bền vững về xã hội là phải xây dựng một xã hội trong đó nền kinh tế tăng trƣởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải đƣợc chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tƣợng trong xã hội. Bền vững về tài nguyên và môi trƣờng là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo đƣợc phải đƣợc sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục đƣợc cả về số lƣợng và chất lƣợng. Các dạng tài nguyên không tái 8 tạo phải đƣợc sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất.
Môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội nhìn chung không bị các hoạt động của con ngƣời làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt đƣợc xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trƣờng đƣợc đảm bảo… Để thực hiện mục tiêu PTBV và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam” (Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam) theo Quyết định 153/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lƣợc, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Một trong các lĩnh vực chủ yếu cần đƣợc ƣu tiên đó là phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. Quan niệm về nông thôn và phát triển bền vững nông thôn 1.
Quan niệm về nông thôn Vùng nông thôn đƣợc quan niệm khác nhau ở mỗi nƣớc với điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên khác nhau. Cho đến nay có thể nói chƣa có một định nghĩa hay một khái niệm nào đƣợc chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Khi định nghĩa về nông thôn ngƣời ta thƣờng so sánh nông thôn với thành thị. Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn.
Theo các nhà xã hội học, sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị đƣợc phản ánh rõ nét dựa trên những tiêu chí nhƣ: sự khác nhau về nghề nghiệp, môi trƣờng, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hƣớng di cƣ, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tƣơng tác trong từng vùng… Tuy nhiên, việc phân biệt giữa nông thôn và thành thị chỉ có tính chất tƣơng đối. Thực tế cho thấy, vẫn còn có sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cƣ và các hoạt động kinh tế xã hội, đặc biệt ở các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ. Vì vậy, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có 9 nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trƣờng phát triển hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trƣờng của nông thôn so với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cƣ và số lƣợng dân cƣ trong vùng để xác định. Một số quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cƣ làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cƣ dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nƣớc, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế.
Đối với những nƣớc đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trƣớc đây. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [17]. Nông thôn Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, ở vùng nông thôn, các cƣ dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngƣ nghiệp và các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp.
Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân.