Chương 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn luôn được quan tâm sâu sắc, tuy nhiên tác động của nóđối với môi trường sống của xã hội xuất hiện nhiều quan điểm gây tranh cãi trong những năm gần đây. Qua đó, mục tiêu của bài nghiên cứu cố gắng xem xét tác động của đầu tư nước ngoài lên ô nhiễm môi trường trong khi kiểm soát các yếu tố khác tại một số quốc gia mới nổi. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng của 34 quốc gia (Phụ lục 1), sử dụng phương pháp ước lượng trên tập dữ liệu được thiết kế ở dạng bảng động và kiểm định nhằm đưa ra kết quả định lượng tin cậy. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT; TỔNG QUAN CÁCNGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH LÝ THUYẾT 2. Đo lường ô nhiễm môi trường và cơ chế tác động của FDI lên ô nhiễm môi trường: 2. Đo lường mức độ ô nhiễm môi trường bằng CO2 Nhìn chung, nguyên nhân gây ra suy thoái môi trường có thể chia thành hai nhóm, những chất thải với tác động ngắn hạn và mang tính địa phương; và những chất thải có thể có tác động gián tiếp lên quy mô toàn cầu và ảnh hưởng lâu dài (Arrow và cộng sự, 1995; Cole và cộng sự, 1997; John và cộng sự, 1995). Một trong những chất thải ảnh hưởng ở địa phương quan trọng nhất là ô nhiễm nguồn nước, SO2, NOx, và CO (Cole và cộng sự, 1997).
Trong khi đó, những chỉ báo có tác động đến môi trường toàn cầu có tác động phổ biến, được cho là gây ra bởi FDI, là các chất thải như CO2, chất thải đô thị, tiêu dùng năng lượng (Horvath, 1997) Tuy nhiên, không có nhiều dữ liệu về mức độ tham gia của các ngành khác nhau vào sự suy thoái môi trường cũng như tỷ trọng phân phối dòng vốn FDI trong một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện bất kỳ một nghiên cứu thực nghiệm có ý nghĩa thống kê nào. Mặt khác, không có chỉ số đồng nhất về phát thải ô nhiễm. Một số ngành công nghiệp gây ra ô nhiễm nguồn nước, trong khi một số ngành gây ô nhiễm không khí và thậm chí còn cả những ngành gây hại cho tất cả loại môi trường. Mặc dù, khí thải CO2 không tồn tại ở tất cả ngành công nghiệp, chỉ số phát thải CO2theo từng quốc gia có sẵn dữ liệu phục vụ cho những mục tiêu nghiên cứu gần đây.
Điều này cho phép việc kiểm tra tác động tăng trưởng của dòng vốn FDI đến chất lượng không khí thông qua chỉ số phát thải CO2 được thực hiện dễ dàng hơn. Tất nhiên, vì ô nhiễm không khí chỉ là một thành phần của suy thoái môi trường, việc phân tích nắm bắt tác động tăng trưởng tới lượng khí thải CO2 chỉ là một đánh giá thấp hơn thiệt hại thực tế lên môi trường có thể có do dòng vốn FDI gây ra. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Việc sử dụng dữ liệu khí thải đơn lẻ như CO2 làm đại diện cho mức độ ô nhiễm thì cũng có những nguyên nhân hợp lý. Bởi vì, CO2 nhìn chung được xem như là nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng nhà kính, chịu trách nhiệm cho sự nóng lên toàn cầu; nó thường được chính phủ các nước đo lường và xem xét tập trung các chính sách về môi trường; đặc biệt là, dữ liệu chuỗi thời gian của CO2 thì luôn sẵn có.
Luận văn sử dụng Dữ liệu CO2 được thu thập từ bộ dữ liệu của Global Carbon Atlas, được đo lường bằng đơn vị Mt (million tonnes), tức triệu tấn. Cơ chế tác động của FDI lên ô nhiễm môi trường Grossman và Kruger (1991) đã đề xuất ba cơ chế phân tích cho tác động của FDI lên ô nhiễm môi trường. Thứ nhất là hiệu ứng quy mô. Hiệu ứng quy mô hàm ý rằng FDI tạo ra một kết quả khả quan gia tăng sản lượng sản xuất vì nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn, nhưng ô nhiễm môi trường đồng thời cũng trầm trọng hơn tương ứng với mức độ tăng trưởng FDI.
Cơ chế thứ hai là hiệu ứng thành phần, điều này nghĩa là FDI có thể ảnh hưởng gián tiếp lên môi trường do thay đổi cấu trúc nền kinh tế, cấu trúc các ngành công nghiệp, vì vốn nước ngoài tập trung nhiều hơn vào các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Điều này có thể có lợi cũng có thể gây tác động bất lợi lên ô nhiễm môi trường. Hệ quả là, hiệu ứng ròng của FDI lên môi trường phụ thuộc vào những ngành công nghiệp tham gia vào FDI có gây ô nhiễm hay không, và lợi thế cạnh tranh có đến từ mức độ điều tiết về môi trường thấp hơn hay không. Lập luận này đồng thời ủng hộ cho giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm(Pollution Haven Hypothesis) vì các chuẩn mực môi trường ít nghiêm ngặt hơn sẽ cho quốc gia được đầu tư FDI có lợi thế so sánh trong các lĩnh vực có khả năng gây ô nhiễm nặng.
Zhang và Fu (2008) chỉ ra rằng ở Trung Quốc, sự gia tăng nghiêm ngặt các quy định về môi trường có tác động tiêu cực đáng kể đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 việc thu hút FDI. Những vùng có quy định môi trường yếu hơn sẽ hấp dẫn hơn đối với dòng vốn FDI. Cơ chế cuối cùng là hiệu ứng công nghệ, cho thấy FDI có thể chuyển giao công nghệ mới làm giảm sản xuất ô nhiễm, đặc biệt là ở các nước đang phát triển và có thể tạo ra ngoại tác lan tỏa tích cực cho các công ty địa phương. Lập luận này được gọi là Hiệu ứng lan tỏa (Halo Effect), và đề xuất rằng mở cửa thương mại quốc tế hỗ trợ nâng cao các tiêu chuẩn môi trường cao hơn.
Ngoài ra, FDI có thể kích thích tăng trưởng kinh tế địa phương và người dân có thu nhập kinh tế cao có thể đòi hỏi mức sống cao hơn, gây áp lực lên chính phủ để duy trì hoặc nâng cao tiêu chuẩn môi trường. Trong các nghiên cứu thực nghiệm, tác động tổng thể của FDI thường phức tạp và không thể được quy cho rõ ràng đối với một trong các cơ chế. Hiệu quả tổng thể sẽ phụ thuộc vào cơ chế nào thống trị ở một nhóm nước cụ thể và vào khoảng thời gian xác định.Nếu tác động công nghệ chiếm ưu thế, FDI sẽ có lợi cho môi trường.Ngược lại, nếu hiệu ứng quy mô và hiệu ứng thành phần, được giải thích bởi giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven), chiếm ưu thế, chất lượng môi trường sẽ xấu đi với FDI. Do đó, hiệu ứng ròng của FDI lên môi trường là một câu hỏithực nghiệm (Gabriele Spilker, 2013).
Dữ liệu FDI sử dụng trong luận văn thu thập từ bộ dữ liệu của World Bank, Được đưa về dạng logarit tự nhiên nhằm giảm ảnh hưởng của phương sai thay đổi, tự tương quan và cho mô hình có thêm ý nghĩa thống kê. Giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven) Khi thương mại được tự do hóa, các ngành công nghiệp gây ô nhiễm có xu hướng dịch chuyển từ các nước phát triển hơn với quy định chặt chẽ về môi trường tới các nước ít phát triển hơn với những quy định về môi trường lỏng lẻo hơn. Ngược lại, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 các ngành công nghiệp sạch có xu hướng di chuyển sang các nước phát triển. Đây là cách Copeland và Taylor (1994) xây dựng giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven) trong lý thuyết kinh tế.
Lý do đằng sau của giả thuyết giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven)liên quan đến những Chi phí phát sinh do những chuẩn mực điều tiết tạo ra. Chi phí tuân thủ những quy định có thể được thể hiện thông qua thuế môi trường, chi phí phát sinh do chậm trễ thi hành các chuẩn mực điều tiết, chi phí theo đuổi các vụ kiện, thiết kế lại sản phẩm hoặc tuân thủ quy định giới hạn phát thải. Sự gia tăng của các dạng chi phí là rất khó lượng định (Levinson và cộng sự, 2008). Mặt khác, các quy định môi trường là những phương tiện thiết yếu để tăng thêm chi phí nhằm bù đắp tổn thất môi trường bên ngoài gây ra bởi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.
Do đó, để thu hút đầu tư nước ngoài, chính phủ các nước đang phát triển chủ động giảm sự quan tâm về các vấn đề môi trường thông qua việc nới lỏng và thực thi các chính sách mềm dẻo, thúc đẩy giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven) diễn ra thuận lợi hơn. Kết quả là, các công ty muốn chuyển đổi hoạt động sang các nước đang phát triển này để tận dụng lợi thế của chi phí sản xuất thấp hơn, được gọi là giả thuyết chuyến bay công nghiệp (Industrial Flight Hypothesis). Cả hai giả thuyết này dẫn đến ô nhiễm và suy thoái quá mức trong tiêu chuẩn môi trường của các nước nhận đầu tư (Maryam Asghari, 2013; Arlan Brucal và cộng sự, 2017). Hiệu ứnglan tỏa(Halo Effect) Hiệu ứng lan tỏa (Halo Effect) cho rằng những ngoại tác có ảnh hưởng tích cực xuất phát từ thực tế rằng FDI mang lại những tiềm năng chuyển giao những công nghệ tiên tiến từ những nước phát triển sang những nước ít phát triển hơn.
Một mặt, nền kinh tế được thúc đẩy bởi tăng trưởng FDI, từ đó làm gia tăng nhận thức của người dân liên quan đến các nhu cầu về chất lượng môi trường sống tương ứng với thu nhập tăng lên, đồng thời thúc đẩy quá trình tận dụng những nguồn tài nguyên mới xanh và sạch TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mặt khác, việc nhập khẩu công nghệ tiên tiến đi kèm với việc áp dụng những tiêu chuẩn môi trường cao hơn ở các nước phát triển, phát triển những công cụ khai thác, sản xuất xanh hơn, cải thiện tiêu chuẩn môi trường ở nước nhận đầu tư (Zarsky, 1999; Maryam Asghari, 2013; Arlan Brucal và cộng sự, 2017). Đường cong môi trường Kuznets (Environmental Kuznets Curve) Grossman và Krueger (1991) vào năm 1991 đã tìm ra mối quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường có dạng đường chữ U ngược, mô tả trong Hình 2. Khái niệm này đã được định nghĩa là Environmental Kuznets Curve (EKC) bởi Panayotou (1993) sau đó.1: Đường cong môi trường Kuznets (EKC) (Nguồn: Đồ thị tự xây dựng dựa trên Bộ dữ liệu của GlobalCarbon Atlas) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.