Luận văn: Đánh giá tác động đô thị hóa đến quản lý và sử dụng đất ở Quảng Ngãi

Luận văn phân tích tác động của đô thị hóa đến quản lý và sử dụng đất tại TP. Quảng Ngãi, thực trạng biến động đất đai và các giải pháp đề xuất.

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh đô thị hóa và sử dụng đất tại Quảng Ngãi

Quá trình đô thị hóa là một xu thế tất yếu, song hành cùng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi không là ngoại lệ. Sự phát triển mạnh mẽ này đã góp phần thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những áp lực lớn lên công tác quản lý đất đai và cơ cấu sử dụng đất. Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Danh (2015) chỉ ra rằng, việc mở rộng không gian đô thị tại thành phố Quảng Ngãi, đặc biệt sau Nghị quyết số 123/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, đã làm gia tăng nhu cầu đất cho các mục đích phi nông nghiệp. Điều này dẫn đến sự biến động sử dụng đất một cách sâu sắc, đặc biệt là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang xây dựng hạ tầng, khu dân cư và các cơ sở sản xuất kinh doanh. Quá trình này mang lại những tác động hai mặt: tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Quảng Ngãi, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều thách thức liên quan đến hiệu quả sử dụng đất, đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường. Việc phân tích và đánh giá các tác động này là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các chính sách đất đai phù hợp, hướng tới sự phát triển bền vững cho thành phố.

1.1. Khái quát quá trình phát triển đô thị Quảng Ngãi

Thành phố Quảng Ngãi, với vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh, đã trải qua một quá trình phát triển đô thị nhanh chóng trong giai đoạn 2006-2014. Sự phát triển này được thúc đẩy bởi các yếu tố như sự lớn mạnh của Khu kinh tế Dung Quất và các chính sách thu hút đầu tư của tỉnh. Một cột mốc quan trọng là việc mở rộng địa giới hành chính vào năm 2014, sáp nhập thêm 13 xã, phường, làm tổng diện tích tự nhiên tăng lên 15.903,97 ha. Quá trình này kéo theo sự gia tăng dân số đô thị, đạt 260.252 người vào năm 2014, và sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Sự phát triển hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ với nhiều công trình giao thông, khu dân cư mới, làm thay đổi bộ mặt đô thị một cách rõ rệt.

1.2. Mối quan hệ giữa đô thị hóa và cơ cấu sử dụng đất

Đô thị hóa và cơ cấu sử dụng đất có mối quan hệ biện chứng và tác động qua lại. Quá trình mở rộng không gian đô thị tất yếu dẫn đến nhu cầu lớn về quỹ đất cho các mục đích phi nông nghiệp như xây dựng nhà ở, hạ tầng kỹ thuật, khu công nghiệp và dịch vụ. Điều này tạo ra áp lực mạnh mẽ, làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng giảm diện tích đất nông nghiệp và tăng diện tích đất phi nông nghiệp. Theo tài liệu nghiên cứu, sự thay đổi này không chỉ là sự chuyển đổi về mặt vật lý mà còn ảnh hưởng đến giá trị kinh tế của đất đai, làm tăng giá đất Quảng Ngãi và hình thành thị trường bất động sản Quảng Ngãi sôi động hơn. Việc quản lý sự chuyển đổi này đòi hỏi một quy hoạch sử dụng đất Quảng Ngãi khoa học và khả thi để đảm bảo sự phát triển hài hòa.

II. Thách thức đô thị hóa Mất đất nông nghiệp ở Quảng Ngãi

Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, quá trình đô thị hóa tại Quảng Ngãi cũng bộc lộ nhiều thách thức nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng mất đất nông nghiệp. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ồ ạt để phục vụ các dự án phát triển đô thị đã làm thu hẹp đáng kể diện tích đất canh tác, vốn là tư liệu sản xuất chính và là nguồn sinh kế của người dân nông thôn. Theo số liệu thống kê, diện tích đất nông nghiệp của thành phố liên tục giảm qua các năm trước khi địa giới hành chính được mở rộng. Vấn đề này không chỉ đe dọa đến an ninh lương thực tại chỗ mà còn gây ra nhiều hệ lụy xã hội phức tạp. Người nông dân mất đất phải đối mặt với khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, trong khi các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đôi khi chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Ngoài ra, tác động môi trường của việc bê tông hóa cũng là một vấn đề đáng lo ngại, làm tăng nguy cơ ngập úng và ô nhiễm đất.

2.1. Thực trạng chuyển đổi đất và ảnh hưởng sinh kế người dân

Thực trạng sử dụng đất tại Quảng Ngãi cho thấy xu hướng giảm mạnh diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Giai đoạn 2006-2014, hàng trăm hecta đất lúa và hoa màu đã được thu hồi để xây dựng các khu dân cư, đường giao thông và cơ sở dịch vụ. Việc này tác động trực tiếp đến sinh kế người dân, đặc biệt là các hộ gia đình phụ thuộc vào nông nghiệp. Nhiều người dân sau khi nhận tiền đền bù gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới do thiếu kỹ năng và trình độ. Mặc dù đô thị hóa tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nhưng không phải tất cả lao động nông nghiệp đều có thể thích ứng kịp thời, dẫn đến tình trạng thất nghiệp và bất bình đẳng xã hội gia tăng.

2.2. Áp lực lên an ninh lương thực và môi trường sinh thái

Việc mất đất nông nghiệp với tốc độ nhanh chóng đặt ra một bài toán lớn về đảm bảo an ninh lương thực trong dài hạn. Đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa nước, là nguồn tài nguyên quý giá và khó có thể phục hồi một khi đã bị chuyển đổi. Bên cạnh đó, các tác động môi trường cũng ngày càng rõ rệt. Việc thay thế các thảm thực vật và mặt nước bằng bê tông và nhựa đường làm giảm khả năng thấm nước tự nhiên, gây ngập úng cục bộ trong mùa mưa. Hơn nữa, hoạt động xây dựng và công nghiệp phát sinh chất thải, có nguy cơ gây ô nhiễm đất và nguồn nước, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái và sức khỏe cộng đồng.

III. Phương pháp quản lý hiệu quả biến động sử dụng đất

Để giải quyết các thách thức do đô thị hóa gây ra, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng cường công tác quản lý đất đai là yêu cầu cấp bách. Trọng tâm của giải pháp nằm ở việc xây dựng và thực thi một hệ thống quy hoạch sử dụng đất Quảng Ngãi đồng bộ, khoa học và có tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch không chỉ là công cụ phân bổ không gian mà còn phải là cơ sở pháp lý vững chắc để kiểm soát quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Theo nghiên cứu của Nguyễn Tấn Danh (2015), cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền trong việc lập, thẩm định và công bố quy hoạch, đảm bảo tính công khai, minh bạch để người dân và doanh nghiệp cùng tham gia giám sát. Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại sẽ giúp theo dõi biến động sử dụng đất một cách chính xác và kịp thời, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp.

3.1. Nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất Quảng Ngãi

Chất lượng của quy hoạch sử dụng đất Quảng Ngãi là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của đô thị. Quy hoạch cần được lập trên cơ sở đánh giá toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và dự báo xu hướng phát triển trong tương lai. Cần ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ và các khu vực có giá trị sinh thái cao. Các dự án phát triển hạ tầng và khu đô thị mới phải được bố trí hợp lý, hạn chế tối đa việc chiếm dụng đất nông nghiệp màu mỡ. Việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện, theo Luật Đất đai 2013, là một công cụ quan trọng để cụ thể hóa quy hoạch, giúp việc giao đất, cho thuê đất diễn ra đúng mục tiêu và tránh tình trạng dự án treo gây lãng phí tài nguyên.

3.2. Hoàn thiện hệ thống chính sách đất đai và bồi thường

Các chính sách đất đai cần được rà soát và hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất cần đảm bảo quyền lợi hợp pháp và chính đáng của người dân có đất bị thu hồi. Mức giá đền bù cần tiệm cận với giá đất Quảng Ngãi trên thị trường, đồng thời phải có các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm hiệu quả để người dân ổn định cuộc sống. Cần có cơ chế khuyến khích việc sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả, chẳng hạn như áp dụng thuế lũy tiến đối với đất bỏ hoang hoặc sử dụng sai mục đích trong các khu đô thị.

IV. Kết quả nghiên cứu Tác động đô thị hóa ở Quảng Ngãi

Nghiên cứu thực tiễn tại thành phố Quảng Ngãi giai đoạn 2006-2014 đã lượng hóa rõ nét các tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất. Kết quả cho thấy một sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu đất đai. Diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên đáng kể, chủ yếu từ việc chuyển đổi đất nông nghiệp, để đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng và khu dân cư. Trước khi mở rộng địa giới, diện tích đất phi nông nghiệp đã chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng diện tích tự nhiên của thành phố (65,19% vào năm 2014). Sự thay đổi này đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Quảng Ngãi, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và sự chuyển dịch cơ cấu lao động tích cực. Tuy nhiên, phân tích cũng chỉ ra những hệ quả tiêu cực như áp lực lên môi trường và sự thay đổi trong sinh kế người dân. Những số liệu này là bằng chứng khách quan, khẳng định tầm quan trọng của việc cần có các giải pháp quản lý đất đai và quy hoạch hiệu quả để hướng quá trình đô thị hóa theo hướng bền vững.

4.1. Phân tích biến động sử dụng đất giai đoạn 2006 2014

Số liệu thống kê cho thấy sự biến động sử dụng đất rõ rệt. Giai đoạn trước khi mở rộng địa giới hành chính, đất nông nghiệp giảm từ 1.562,03 ha (năm 2007) xuống còn 1.272,1 ha (đầu năm 2014). Ngược lại, đất phi nông nghiệp tăng mạnh, đặc biệt là đất ở đô thị và đất chuyên dùng. Sau khi sáp nhập 13 xã, phường vào tháng 4/2014, cơ cấu đất thay đổi đột ngột với diện tích đất nông nghiệp tăng lên 7.991,04 ha (chiếm 50,24%), cho thấy tiềm năng và cả thách thức trong việc quản lý một không gian đô thị - nông thôn đan xen. Sự thay đổi này phản ánh trực tiếp tốc độ mở rộng không gian đô thị và nhu cầu đất cho phát triển.

4.2. Đánh giá tác động đến kinh tế xã hội và môi trường

Về kinh tế, đô thị hóa đã tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng dịch vụ (46,39%) và công nghiệp - xây dựng (38,66%) chiếm ưu thế. Về xã hội, cơ sở hạ tầng được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao. Tuy nhiên, mặt trái là sự phân hóa giàu nghèo và các vấn đề xã hội phát sinh do tập trung dân cư. Về môi trường, nghiên cứu chỉ ra những tác động môi trường tiêu cực như nguy cơ ô nhiễm không khí, tiếng ồn từ hoạt động xây dựng và áp lực lên hệ thống xử lý nước thải. Việc giảm diện tích cây xanh và mặt nước cũng là một vấn đề cần được quan tâm trong quá trình phát triển đô thị Quảng Ngãi.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái quát về quản lý sử dụng đất 1.

Tình hình quản lý nhà nước về đất đai a. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Theo Điều 1, Luật Đất đai năm 2013 đã khẳng định, Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Để thực hiện việc quản lý nhà nước về đất đai, trước tiên phải nói đến các quan hệ về đất đai như quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: quan hệ về sở hữu, SDĐ đai; quan hệ về phân phối các sản phẩm do SDĐ mà có. Trong đó, Nhà nước là người đại diện quyền sở hữu về đất đai, thực hiện quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật.

Là chủ sở hữu về đất đai Nhà nước có đầy đủ các quyền của một chủ sở hữu đối với loại tài sản đặc biệt này, đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Để thực hiện các quyền này Nhà nước đã thực hiện bằng việc xác lập chế độ quản lý nhà nước về đất đai để khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước để hình thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng manh mún đất đai góp phần SDĐ đúng mục đích, có hiệu quả hơn. Quản lý đất đai là quản lý con người SDĐ, quản lý từng loại đất ở từng vùng khác nhau để phát huy hiệu quả của việc SDĐ và đảm bảo thực hiện theo đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ ở các cấp. Tóm lại, quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, bao gồm: hoạt động nắm chắc tình hình đất đai, phân phối và phân phối lại đất đai, kiểm tra giám sát tình hình quản lý và SDĐ đai, điều tiết các nguồn lợi từ đất đai [7].

Nội dung quản lý nhà nước về đất đai Nội dung quản lý nhà nước về đất đai có sự thay đổi qua các thời kỳ để phù hợp với tình hình SDĐ thực tế. Theo Khoản 2, Điều 6 Luật Đất đai năm 2003, có 13 nội dung về quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: - Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, SDĐ đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. 3 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. - Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng SDĐ và bản đồ quy hoạch SDĐ.

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch SDĐ. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ. - Đăng ký quyền SDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ. - Thống kê, kiểm kê đất đai.

- Quản lý tài chính về đất đai. - Quản lý và phát triển thị trường quyền SDĐ trong thị trường bất động sản. - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người SDĐ. - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và SDĐ đai. - Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai [4]. Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trong quá trình triển khai các nội dung trong Luật Đất đai 2003, trong đó có nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, Luật Đất đai 2013 ra đời đã quy định cụ thể hơn về các nội dung quản lý nhà nước về đất đai, gồm 15 nội dung sau: - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, SDĐ đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.

- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng SDĐ và bản đồ quy hoạch SDĐ; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. - Quản lý quy hoạch, kế hoạch SDĐ. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ. - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.

- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền SDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. 4 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma - Thống kê, kiểm kê đất đai. - Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. - Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.

- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người SDĐ. - Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và SDĐ đai.

- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai [5]. Luật Đất đai 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 nên các nội dung trong Luật cũng như nội dung quản lý nhà nước về đất đai từng bước được cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn và đang được triển khai áp dụng ở khắp các địa phương trên cả nước, bước đầu đã mang lại hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, góp phần giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai dần đi vào nề nếp hơn. Tình hình sử dụng đất Quá trình SDĐ luôn gắn với nhiều mục đích khác nhau, để SDĐ hợp lí và phù hợp với nhu cầu ĐTH thì phải đảm bảo quỹ đất cho từng mục đích cụ thể. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu ĐTH phải gắn với quá trình chuyển đổi mục đích SDĐ, đây là một hoạt động vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã hội và có sự phức tạp nhất định.

Trong thực tế theo quy luật vận động của xã hội thì CNH và ĐTH là quá trình tất yếu và luôn đi đôi với nhau. Các quá trình này thường diễn ra theo chiều hướng mở rộng quy mô diện tích để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, khu kinh tế và các đô thị. Sự thay đổi trong cơ cấu các ngành nghề tạo ra nhu cầu rất lớn, tạo sức ép mạnh mẽ làm thay đổi cơ cấu SDĐ, việc chuyển đổi đất đai đã trở thành nhu cầu cấp thiết cho quá trình CNH và ĐTH được diễn ra thuận lợi. Quá trình CNH và ĐTH diễn ra mạnh sẽ thúc đẩy các ngành nghề mới ra đời.

Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi đất đai cũng diễn ra nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu SDĐ cho những ngành mới, hơn nữa mỗi ngành cũng không ngừng phát triển, mở rộng quy mô diện tích nên cần được bổ sung thêm quỹ đất. Giá trị đất đai càng ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu là do quan hệ cung cầu trong SDĐ, nếu cung không thay đổi mà cầu ngày một tăng và tăng rất nhanh thì giá trị đất đai sẽ tăng theo nhu cầu của người SDĐ. Ngoài ra, yếu tố con người cũng là nguyên nhân làm tăng giá trị đất đai, cụ thể 5 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma là con người luôn tìm ra được nhiều cách SDĐ đai có lợi cho mình, làm tăng giá trị SDĐ. Do đó, xu hướng chuyển đổi đất đai diễn ra càng mạnh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn khi sử dụng vào mục đích mới.

Quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích đất phi nông nghiệp bước đầu cho thấy hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, điều này lại làm mất khả năng sản xuất của đất nông nghiệp, gây ảnh hưởng đến môi trường và thay đổi điều kiện sản xuất nông nghiệp của khu vực đó. Ở nước ta hiện nay, chuyển đổi đất đai còn tùy thuộc vào nhu cầu và mục đích sử dụng của từng địa phương nhưng vẫn theo hai phương thức là chuyển đổi tự nguyện và chuyển đổi bắt buộc. Quá trình chuyển đổi đất đai tự nguyên xuất phát trên cơ sở người SDĐ thực hiện chuyển mục đích SDĐ hoặc nhận chuyển quyền SDĐ thông qua chuyển nhượng, thuê hoặc góp vốn quyền SDĐ, sau đó thực hiện chuyển mục đích SDĐ theo quy định của pháp luật, nhưng quá trình chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp hay việc Nhà nước thu hồi đất để giao, cho thuê vào mục đích khác và thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất thì phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khái quát về quá trình đô thị hóa 1. Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ĐTH đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá - xã hội, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất, kỹ thuật, giữ vai trò chủ đạo trong sự tăng trưởng của một vùng, một quốc gia. ĐTH là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là đầu mối quan trọng để khống chế hệ thống phân bố dân cư, tạo ra bộ khung của mạng lưới đô thị hoặc quốc gia. Ngoài ra, ĐTH còn là trung tâm của các hệ thống phân bố tái định cư tại các vùng, các địa phương, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH nhanh chóng, thuận lợi giúp cho việc phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, giữa các khu vực ngoại thành, nội thành và vùng nông thôn.

Mặt khác, đô thị còn là nơi tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần tạo nên thu nhập quốc dân và phát triển đất nước. Khái niệm đô thị hóa ĐTH là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ