MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ năm 1986 đến nay, sau gần 40 năm thực hiện đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội của Việt nam đã có những sự cải thiện đáng kể từ tốc độ tăng trưởng kinh tế, trình độ văn hóa - xã hội, mức độ công nghiệp hóa gắn liền với quá trình hiện đại hóa đất nước ngày càng được đẩy mạnh. Tuy nhiên bên cạnh đó, với mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam chính thức trở thành nước công nghiệp hóa - hiện đại hóa đòi hỏi phải đẩy nhanh quá trình thực hiện đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, thực hiện đầu tư vì mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, phục vụ cho mục đích an sinh xã hội và cuộc sống của người dân ngày càng ấm no hạnh phúc. Áp dụng kinh nghiệm của những nước có ngành công nghiệp phát triển đặc biệt là sự phát triển của các KCN, Việt Nam cũng đưa sự phát triển của các KCN gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
Từ đó hình thành và phát triển KCN kích thích sự phát triển của các ngành dịch vụ, công nghiệp phụ trợ và tạo ra khối lượng công ăn việc làm lớn cho bản thân địa phương có KCN và các địa phương lân cận. KCN không chỉ là nơi tạo điều kiện đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh cho NĐT trong nước mà còn là nơi hấp dẫn thu hút hoạt động đầu tư của những NĐT nước ngoài, tạo ra năng lực canh tranh cho môi trường đầu tư của đất nước. Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 12 năm 2022, Việt Nam có hơn 400 KCN trong đó có 4 khu chế xuất. Tổng diện tích đất tự nhiên là gần 130.000 ha trong đó diện tích đất công nghiệp là hơn 86.000 ha, chiếm đến 67%.
Trong tổng số hơn 400 KCN của nước ta tính đến hết năm 2022 thì có khoảng 290 KCN đã xây dựng xong và đi vào hoạt động, số lượng KCN vẫn đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Cũng theo dữ liệu thống kê cho biết đến hết năm 2022 có tổng 26 khu kinh tế cửa khẩu được thành lập tại 21 tỉnh và 18 khu kinh tế ven biển được thành lập trên 17 tỉnh thành. Cho đến nay số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào các khu vực này là khoảng 65 quốc gia trong đó Hàn Quốc là quốc gia có số dự án đầu tư lớn nhất là khoảng 2.500 dự án, Nhật bản xếp thứ hai với khoảng 1.500 dự án tiếp theo là Singapore và các quốc gia khác như Trung Quốc, Đài Loan… Thực tế 2 cho thấy sau quá trình dài hình thành và phát triển, cụ thể là vào khoảng 30 năm xây dựng và phát triển các KCN trên cả nước đã giúp Việt Nam thu hút được số lượng vốn đầu tư lớn của cả nước ngoài và trong nước, đồng thời góp phần đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước. Giúp nền kinh tế nước nhà gấp rút theo được các nền kinh tế phát triển trên thế giới.
Trong bố cảnh đó, tại tỉnh Vĩnh Phúc cũng ngày càng nỗ lực trong công cuộc xây dựng hệ thống KCN ổn định, phát triển, trước mắt để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương sau đó là thúc đẩy sự phát triển hơn nữa nền kinh tế nước nhà. Cụ thể đến hết năm 2023, tỉnh Vĩnh Phúc được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển 19 khu công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch là 5. Trong đó có 16 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất theo quy hoạch được duyệt là 3.168,02 ha và có 3 khu công nghiệp đang triển khai thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư. 8 KCN đã chính thức đi vào hoạt động bao gồm: Kim Hoa, Khai Quang, Bình Xuyên, Bá Thiện, Bình Xuyên II (giai đoạn 1), Bá Thiện II, Tam Dương II - khu A, Thăng Long Vĩnh Phúc.
Về cơ bản các khu công nghiệp được lấp đầy bởi các dự án đầu tư thứ cấp. Bên cạnh những mặt tích cực mà tỉnh Vĩnh Phúc đã làm được để thúc đẩy sự phát triển các KCN trong toàn tỉnh thì cũng vẫn còn những mặt hạn chế nhất định. Trước hết là nói về tỉ lệ lấp đầy các KCN, theo ban quản lý các KCN tỉnh Vĩnh Phúc cho biết đến tháng 10/2023 tỉ lệ lấp đầy các KCN của tỉnh Vĩnh Phúc chỉ rơi vào khoảng 70,06% trong khi tỷ lệ lấp đầy các KCN trên cả nước rơi vào khoảng 80%, đặc biệt đối với những tỉnh phía Nam con số này còn vượt mức 85% (Minh Tiến, 2023). Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện đối với các dự án FDI trên vốn đầu tư đăng ký cho đến hết tháng 10 năm 2023 đạt khoảng 60%, đối với các dự án DDI đạt khoảng 41% so với vốn đầu tư đăng kí ban đầu.
Các dự án đầu tư vào khu tỉnh Vĩnh Phúc đa số là các dự án vừa và nhỏ, quy mô của các dự án vẫn bị giới hạn, NĐT lại phải mất thời gian khá lâu để tìm hiểu về tất cả những gì mà tỉnh Vĩnh Phúc có để quyết định có thực hiện đầu tư hay không, do đó việc thu hút đầu tư vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập nhất định. Ngoài ra, khi các KCN được thành lập đã tác động trực tiếp lên thu nhập của người dân bị mất đất cho KCN nói riêng và người dân xung quanh KCN nói chung, một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư của người lao động sẽ bị thu hồi. 3 Theo như số liệu mà Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết, hàng năm có khoảng 73 nghìn ha đất nông nghiệp bị thu hồi cho nhiều mục đích khác nhau, tác đông trực tiếp đến thu nhập của người dân nói nói riêng và đời sống xã hội nói chung của 2,5 triệu người dân. Thêm vào đó cứ 1ha đất trung bình bị thu hồi thì có đến 10 lao động bị thất nghiệp gây ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người lao động.
Tại tỉnh Vĩnh Phúc có đến 19 KCN đã được quy hoạch, 16 KCN đã và đang xây dựng, 8 KCN đã đi và hoạt động, tổng diện tích đất tự nhiên là 3.168,02 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 30% phần lớn của người dân. Chính vì vậy, một số lượng không hề nhỏ người lao động lớn tuổi hoặc không có chuyên môn, thậm chí là lao động chưa đủ 16 tuổi đã rơi vào tình trạng thất nghiệp, không có việc làm. Điều này bắt buộc phải có giải pháp để tạo lại nguồn thu nhập hay công việc cho những người lao động này. Trước thực trạng đó, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu tác động của đầu tư phát triển khu công nghiệp đến thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là điều tất yếu.
Nghiên cứu của tác giả sẽ xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của người dân khi các KCN được hình thành và phát triển bao gồm các các yếu tố truyền thống và các yếu tố khác liên quan đến đầu tư phát triển KCN ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Qua đó bài viết cũng sẽ đánh giá được tác động của các yếu tố này đến thu nhập của người dân. Mục tiêu nghiên cứu Về mục tiêu nghiên cứu, trong nghiên cứu của mình, tác giả tập trung tìm hiểu về tác động của đầu tư phát triển khu công nghiệp đến thu nhập của người dân. Qua tìm hiểu và thực hiện nghiên cứu có thể đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực mà hoạt động đầu tư phát triển khu công nghiệp tới thu nhập của người dân.
Câu hỏi nghiên cứu của bài bao gồm: Thứ nhất, thực trạng đầu tư phát triển khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2016-2023 như thế nào? Những kết quả đạt được và hạn chế mà đầu tư phát triển khu công nghiệp tác động lên thu nhập của người dân tỉnh Vĩnh Phúc? Thứ hai, những yếu tố nào của đầu tư phát triển khu công nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc? 4 Thứ ba, giải pháp nào được đề xuất nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, phát huy những mặt tích cực của đầu tư phát triển khu công nghiệp đến thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc? 3. Đối tượng nghiên cứu Tác động của đầu tư phát triển khu công nghiệp đến thu nhập của người dân. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề án được thực hiện tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi thời gian: Số liệu thực hiện nghiên cứu được sử dụng trong giai đoạn 2016-2023. Phạm vi nội dung: Thực hiện nghiên cứu những tác động của đầu tư phát triển khu công nghiệp (bao gồm cả đầu tư phát triển hạ tầng KCN và đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN) đến thu nhập của người dân, từ đó phân loại được đâu là nhóm tác động tích cực và nhóm tác động tiêu cực trong việc ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Phương pháp nghiên cứu 4. Phương pháp thu thập dữ liệu Đối với dữ liệu sơ cấp: Dựa vào phiếu khảo sát mức sống của người dân của Tổng cục thống kê năm 2022 (GSO, 2022) để thiết kế mẫu phiếu khảo sát của hộ dân, tác giả thiết kế bảng các câu hỏi cho hộ dân để thực hiện thu thập dữ liệu cho nghiên cứu của mình.
Các câu hỏi trong bảng hỏi bao gồm: đặc điểm của hộ gia đình, nguồn lực của hộ gia đình, thu nhập của hộ gia đình. Số lượng phiếu điều tra phát ra là 150 phiếu, số phiếu thu về là 120 phiếu hợp lệ tương ứng với số lượng hộ gia đình trả lời hợp lệ là 120 phiếu. Trong số 120 phiếu điều tra hợp lệ thu về có 67 hộ là hộ nông dân bị mất đất để phục vụ cho hoạt động xây dựng và phát triển khu công nghệp, 53 hộ còn lại không bị mất đất. Bảng hỏi được trình bày chi tiết tại Phụ lục 1.
5 Số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2024 bằng cách sử dụng bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ gia đình tại các gia đình trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.