chương 1 cũng nêu lên khoảng trống nghiên cứu tìm được. Đây sẽ là cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu về tác động của đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong chương tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Hành vi điều chỉnh lợi nhuận 2.1 Khái niệm Trong kế toán hiện tồn tại hai cơ sở ghi nhận các bút toán kế toán bao gồm: - Cơ sở dồn tích (Accrual basis): theo cơ sở này thì các bút toán kế toán được ghi nhận khi thời điểm phát sinh không kể đã thực thu, chi bằng tiền hay không. - Cơ sở tiền (Cash basis): theo cơ sở này thì các bút toán kế toán chỉ được ghi nhận khi đã thực thu, chi bằng tiền.
Đối với các doanh nghiệp, việc ghi nhận các giao dịch kế toán đều dựa trên cơ sở dồn tích và do đó sẽ dẫn đến lợi nhuận bằng tiền (dòng tiền từ hoạt động kinh doanh) và lợi nhuận ghi nhận trên cơ sở dồn tích sẽ có sự khác biệt. Sự khác biệt này chính là được tạo ra bởi các khoản dồn tích (Ví dụ: doanh thu nhận trước, khấu hao, dự phòng, trích trước.) Như vậy, việc ghi nhận các bút toán kế toán trên cơ sở dồn tích sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản lý của doanh nghiệp điều chỉnh tăng, giảm lợi nhuận sau thuế tùy theo mục tiêu công bố thông tin của mình bằng cách sử dụng các khoản dồn tích. Theo Schipper (1989) Hành vi quản trị lợi nhuận là hành vi có mục đích đối với quy trình lập và trình bày BCTC nhằm đạt được lợi ích cá nhân. Theo Healy và Wahlen (1999) thì hành vi quản trị lợi nhuận xuất hiện khi nhà quản trị dùng xét đoán trên BCTC và trong cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế nhằm làm thay đổi BCTC để gây hiểu lầm cho một số đối tượng liên quan về thực trạng kinh tế của DN hoặc nhằm tác động đến kết quả của các hợp đồng kinh tế mà chúng dựa trên số liệu kế toán.
Ronen và Yaari (2008) cũng trình bày một khái niệm tổng quát bao gồm tất cả các khía cạnh của hành vi điều chỉnh lơ ̣i nhuâ ̣n như sau: “Hành vi điều chỉnh lơ ̣i nhuâ ̣n là một tập hợp các quyết định quản lý dẫn đến việc không báo cáo hiện trạng trong ngắn hạn, tối đa hóa giá trị thu nhập theo dự tính của nhà quản lý. Hành vi điều chỉnh lơ ̣i nhuâ ̣n có thể: Có lợi, Có hại hoặc Trung tính. Nếu có lợi là tín hiệu cho thấy giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 trị ở dài hạn, có hại thì che dấu giá trị ngắn, dài hạn và trung tính sẽ phát hiện kết quả thực 2.2 Mục đích của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận chính là kế toán theo cơ sở dồn tích. Cơ sở kế toán dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán DN.
Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (chuẩn mực kế toán số 01, 2002). Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN. Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng phải được lập trên cơ sở dồn tích. Điều này mang lại cơ hội cho NQT thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào đó.
Trong khi đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên NQT không thể điều chỉnh các giao dịch. Từ đó chênh lệch giữa lợi nhuận trên BCKQHĐKD và dòng tiền trên BCLCTT (theo phương pháp trực tiếp) tạo ra biến kế toán gọi là Accruals. Ta có công thức sau Biến kế toán dồn tích (Accuals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt HĐKD Mục đích của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Theo Healy và Wahlen (1999) có ba động cơ chủ đạo để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận: Động cơ về thị trường vốn: Động cơ thực hiện hành vi chi phối lợi nhuận xuất phát từ thị trường vốn là một trong những hiện tượng phổ biến. Thông thường nhà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhằm mục đích đạt được hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu, phát hành cổ phiếu, mua bán hoặc sáp nhập DN.
Nhiều nghiên cứu đã cung cấp được bằng chứng là NQT có xu hướng chi phối lợi nhuận để đạt hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu. Điều này được giải thích bởi lý thuyết chính trị. Yếu tố phí tổn chính trị đối với DN được coi là các phí tổn phi hợp đồng. Ví dụ như công đoàn công ty sẽ gây sức ép với ban lãnh đạo để được trả lương cao hơn khi công ty có lãi cao hoặc một số những cổ đông quá khích sẽ gây áp lực lên nhà quản lý nếu lợi nhuận thực tế chênh lệch quá lớn so với dự báo… Đó là động lực để ban lãnh đạo phù phép giảm lợi nhuận thông qua các thủ thuật kế toán.
Theo Burgstahler và Eames (1998) cho thấy rằng các công ty điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng được sự mong đợi của các nhà phân tích dự báo. Bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi công ty có mức lợi nhuận vượt quá lợi nhuận kỳ vọng. Do về mặt tâm lý nhà đầu tư luôn thích một DN đạt được một mức lợi nhuận nào đó thay vì lỗ, và không có quá nhiều biến động qua các năm. Do đó sự thất bại trong việc không đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng của nhà quản lý cũng bị trừng phạt mạnh bởi thị trường.
Vì vậy nhà quản lý có xu hướng trình bày mức lợi nhuận đạt hoặc vượt mức lợi nhuận mục tiêu. Các nhà quản lý cũng thường điều chỉnh lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ phiếu. Trong sáp nhập và mua bán DN, hành động điều chỉnh lợi nhuận cũng có thể được thực hiện. Xu hướng thường là đẩy lợi nhuận lên cao để tăng giá cổ phiếu trước khi thực hiện thương vụ.
Có một số những tác giả đã nghiên cứu thực nghiệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận trước khi thực hiện các thương vụ mua lại. DeAngelo (1988) chỉ ra rằng thông tin lợi nhuận là rất quan trọng trong việc định giá trị mua lại và các nhà quản lý của các công ty mua lại có động cơ để giảm bớt lợi nhuận và cho thấy những biến dồn tích kiểm soát những thay đổi doanh thu và chi phí vốn, những biến dồn tích là tiêu cực trước khi mua lại. Những nghiên cứu khác cũng đã kiểm tra việc các nhà quản lý phóng đại lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu. Những phát hiện này chỉ ra rằng các công ty báo cáo tăng thu nhập bằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 các biến dồn tích trước khi phát hành cổ phiếu (Teoh,Welch and Wong (1998b)) và phát hành lần đầu ra công chúng (Ronen và Yaari (2008)).
Động cơ về chi phí hợp đồng: Hợp đồng vay thường được các chủ nợ sử dụng để bảo vệ quyền lợi của họ trước hành động điều chỉnh lợi nhuận của NQT. Ở các nước phát triển, hợp đồng vay có một số những điều khoản ràng buộc sau: công ty đi vay phải duy trì mức tài sản hữu hình đáp ứng một mức cụ thể nào đó hoặc phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu về CBTT theo quy định, hoặc phải duy trì một mức bảo hiểm cụ thể nào đó về nợ vay, hoặc mức lợi nhuận tối thiểu. Do có sự tách rời quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty niêm yết nên các NQT có động cơ điều chỉnh lợi nhuận tăng để tránh vi phạm hợp đồng đi vay. Nếu vi phạm, các chủ nợ có thể tăng tỷ lệ lãi suất đối với các khoản nợ hoặc yêu cầu DN thanh toán khoản nợ ngay lập tức.
Vì các chủ nợ cho rằng nếu DN làm ăn không có lãi thì khả năng thanh toán nợ cho họ khó khăn hơn. Từ đó rủi ro rất lớn trong việc thu hồi nợ vốn vay. Hệ quả là các NQT sử dụng các thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh các rắc rối liên quan đến hợp đồng đi vay. Đặc biệt là trong trường hợp công ty niêm yết làm ăn thua lỗ thì NQT càng có động cơ mạnh hơn trong việc điều chỉnh lợi nhuận.
Bởi vì không một NQT nào muốn đưa tín hiệu xấu đến các bên liên quan trong đó có chủ nợ. Ví dụ theo nghiên cứu của Das và Shroff, 2002 cho thấy rằng do bên cho vay đánh giá mức độ rủi ro của bên đi vay nhằm đánh giá khả năng trả nợ của bên đi vay bằng cách phân tích các chỉ số tài chính như nợ/vốn chủ sở hữu, DN thường có xu hướng thổi phồng thu nhập. Hay trong quá trình thực hiện hợp đồng vay khi các NQT cho rằng sự vi phạm hợp đồng vay không được giải quyết thì nhà quản lý thường thực hiện hành vi chi phối thu nhập theo hướng thổi phồng lợi nhuận nhằm mục đích nới lỏng các điều khoản nhằm đảm bảo vay (Healy and Palepu, 1990). Động cơ đáp ứng các quy định về phía nhà nước: DN có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN hoặc trì hoãn thanh toán thuế hoặc hưởng ưu đãi thuế.
Nghiên cứu của Han and Wang (1998) cho thấy các DN xăng dầu đã trì hoãn ghi lợi nhuận trong thời kỳ khủng hoảng vùng vịnh năm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 1990 khi các DN này đã đạt được khoản lợi nhuận siêu lớn. Hay DN sẽ ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại khi cung cấp được bằng chứng rằng trong tương lai DN sẽ tạo ra được lợi nhuận để khấu trừ với tài sản này. NQT sẽ sử dụng tài khoản này để giảm chi phí thuế TNDN khi DN đã biết được rằng mình đã đạt được mình đã đạt được mức lợi nhuận như mong muốn Ayers (1998), (Miller and Skinner 1998), Visvanathan(1998) .