Tác động của các cam kết gia nhập WTO đến dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam

Chuyên khảo phân tích Tác động của các cam kết gia nhập wto đến dịch vụ chứng khoán tại việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Kinh Tế Đối Ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2009

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ chứng khoán và vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO

1.1. Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ chứng khoán

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1. Chứng khoán và thị trường chứng khoán

1.1.2. Thị trường chứng khoán

1.1.3. Dịch vụ chứng khoán và các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán

1.1.3.1. Dịch vụ chứng khoán
1.1.3.2. Các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán

1.1.4. Thị trường dịch vụ chứng khoán

1.1.5. Các loại hình dịch vụ chứng khoán chính

1.1.5.1. Môi giới chứng khoán
1.1.5.2. Tự doanh chứng khoán
1.1.5.3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán
1.1.5.4. Tư vấn đầu tư chứng khoán
1.1.5.5. Quản lý danh mục đầu tư
1.1.5.6. Quản lý quỹ chứng khoán

1.1.6. Tự do thương mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO

1.1.6.1. Vài nét về WTO và hiệp định GATS
1.1.6.1.1. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
1.1.6.1.2. Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS
1.1.6.2. Tự do hóa thương mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO
1.1.6.2.1. Cung cấp qua biên giới
1.1.6.2.2. Tiêu dùng ngoài lãnh thổ
1.1.6.2.3. Hiện diện thương mại
1.1.6.2.4. Hiện diện thể nhân
1.1.6.2.5. Tính minh bạch của pháp luật

2. CHƯƠNG 2: Tác động của các cam kết gia nhập WTO đến dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam

2.1. Thị trường dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO

2.1.1. Các nhà cung cấp trên thị trường dịch vụ chứng khoán

2.1.1.1. Công ty chứng khoán
2.1.1.2. Công ty quản lý quỹ

2.1.2. Các loại hình dịch vụ chứng khoán cung cấp trên thị trường

2.1.2.1. Môi giới chứng khoán
2.1.2.2. Hoạt động môi giới cổ phiếu
2.1.2.3. Hoạt động môi giới trái phiếu
2.1.2.4. Tự doanh chứng khoán
2.1.2.5. Bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán
2.1.2.6. Tư vấn đầu tư chứng khoán
2.1.2.7. Quản lý danh mục đầu tư

2.1.3. Những tác động của các cam kết gia nhập WTO đến dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam

2.1.3.1. Các cam kết WTO của Việt Nam về dịch vụ chứng khoán
2.1.3.2. Thị trường dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam dưới tác động của các cam kết gia nhập WTO
2.1.3.2.1. Những nhận định ban đầu về các tác động
2.1.3.2.2. Các tác động thực tế
2.1.3.2.2.1. Sự gia tăng về quy mô và sức cạnh tranh giữa các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán
2.1.3.2.2.2. Sự gia tăng về nhu cầu và các loại dịch vụ chứng khoán
2.1.3.2.3. Đánh giá sự phát triển dịch vụ chứng khoán Việt Nam
2.1.3.2.3.1. Thành tựu đạt được
2.1.3.2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại

3. CHƯƠNG 3: Giải pháp phát triển dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam thời kỳ hậu WTO

3.1. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ chứng khoán ở một số nước sau khi gia nhập WTO

3.1.1. Hàn Quốc trong quá trình tự do hóa dịch vụ chứng khoán

3.1.1.1. Giai đoạn từ đầu thập niên 80 đến trước năm 1997
3.1.1.2. Giai đoạn thứ hai diễn ra từ 1997 tới nay

3.1.2. Trung Quốc trong quá trình tự do hóa dịch vụ chứng khoán

3.1.2.1. Trung Quốc với việc thực hiện các cam kết ban đầu
3.1.2.2. Đánh giá việc thực hiện cam kết khi gia nhập WTO của Trung Quốc đến thời điểm này

3.1.3. Bài học từ việc nghiên cứu Hàn Quốc và Trung Quốc

3.2. Giải pháp phát triển dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam thời kỳ hậu WTO

3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán, doanh nghiệp và thị trường chứng khoán

3.2.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động của các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán

3.2.2.1. Công ty chứng khoán
3.2.2.2. Hoạt động môi giới chứng khoán
3.2.2.3. Hoạt động tự doanh chứng khoán
3.2.2.4. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
3.2.2.5. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
3.2.2.6. Các hoạt động khác

3.2.3. Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ

3.2.3.1. Một số quy định liên quan tới công ty quản lý quỹ
3.2.3.2. Các quy định về ngân hàng giám sát (người thụ ủy)
3.2.3.3. Các quy định khác

3.2.4. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam

3.2.4.1. Cải thiện quy mô vốn
3.2.4.2. Nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô dịch vụ
3.2.4.3. Nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô nguồn nhân lực
3.2.4.4. Nâng cao và đổi mới cơ sở vật chất, công nghệ thông tin
3.2.4.5. Nâng cao khả năng quản trị, giám sát, kiểm soát nội bộ và hiệu quả tác nghiệp
3.2.4.6. Các giải pháp khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của WTO đến dịch vụ chứng khoán Việt Nam

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã có những tác động sâu sắc đến dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam. Việc gia nhập WTO vào năm 2007 đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho thị trường chứng khoán. Các cam kết của WTO yêu cầu Việt Nam phải thực hiện tự do hóa dịch vụ chứng khoán, từ đó tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra áp lực lớn lên các tổ chức chứng khoán trong nước để nâng cao năng lực cạnh tranh.

1.1. Tác động tích cực của WTO đến dịch vụ chứng khoán

Gia nhập WTO đã giúp Việt Nam cải cách và hiện đại hóa dịch vụ chứng khoán. Các quy định của WTO thúc đẩy tính minh bạch và cạnh tranh trong thị trường, từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Sự gia tăng đầu tư nước ngoài đã tạo ra cơ hội phát triển cho các công ty chứng khoán trong nước.

1.2. Thách thức đối với dịch vụ chứng khoán Việt Nam

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng dịch vụ chứng khoán Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự cạnh tranh từ các tổ chức nước ngoài ngày càng gia tăng, đòi hỏi các công ty chứng khoán trong nước phải cải thiện chất lượng dịch vụ và nâng cao năng lực quản lý.

II. Vấn đề tự do hóa dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO

Tự do hóa dịch vụ chứng khoán là một trong những cam kết quan trọng của Việt Nam khi gia nhập WTO. Điều này không chỉ giúp mở cửa thị trường mà còn tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng hơn. Tuy nhiên, việc thực hiện tự do hóa cũng gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc điều chỉnh các quy định pháp lý và nâng cao năng lực cho các tổ chức chứng khoán.

2.1. Các cam kết của Việt Nam về dịch vụ chứng khoán

Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo các quy định của WTO. Điều này bao gồm việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các hoạt động môi giới, tư vấn và quản lý quỹ. Các cam kết này đã tạo ra một khung pháp lý rõ ràng cho các hoạt động chứng khoán.

2.2. Tác động của tự do hóa đến thị trường chứng khoán

Tự do hóa dịch vụ chứng khoán đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể về số lượng và chất lượng dịch vụ. Các công ty chứng khoán trong nước đã phải cải thiện dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh với các tổ chức nước ngoài.

III. Phương pháp cải cách dịch vụ chứng khoán Việt Nam sau WTO

Để phát triển dịch vụ chứng khoán trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam cần thực hiện nhiều cải cách. Các biện pháp này bao gồm việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực cho các tổ chức chứng khoán và cải thiện chất lượng dịch vụ. Những cải cách này sẽ giúp dịch vụ chứng khoán Việt Nam có thể cạnh tranh hiệu quả hơn trên thị trường quốc tế.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ chứng khoán

Việc hoàn thiện khung pháp lý là rất cần thiết để tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng. Các quy định cần được điều chỉnh để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, từ đó thu hút đầu tư nước ngoài.

3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức chứng khoán

Các tổ chức chứng khoán cần nâng cao năng lực quản lý và chất lượng dịch vụ. Điều này có thể đạt được thông qua việc đào tạo nhân lực, cải tiến công nghệ và áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dịch vụ chứng khoán

Nghiên cứu cho thấy rằng dịch vụ chứng khoán Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể sau khi gia nhập WTO. Sự gia tăng đầu tư nước ngoài và cải cách trong quản lý đã giúp thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

4.1. Kết quả đạt được từ cải cách dịch vụ chứng khoán

Sau khi gia nhập WTO, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng về quy mô và số lượng giao dịch. Các công ty chứng khoán đã cải thiện đáng kể về chất lượng dịch vụ và khả năng cạnh tranh.

4.2. Những hạn chế còn tồn tại trong dịch vụ chứng khoán

Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng dịch vụ chứng khoán Việt Nam vẫn gặp phải nhiều hạn chế. Các vấn đề như thiếu minh bạch, quy định pháp lý chưa hoàn thiện và năng lực cạnh tranh còn yếu cần được khắc phục.

V. Kết luận và tương lai của dịch vụ chứng khoán Việt Nam

Tương lai của dịch vụ chứng khoán Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các yêu cầu của WTO và thị trường quốc tế. Việc tiếp tục cải cách và nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán trong thời gian tới.

5.1. Triển vọng phát triển dịch vụ chứng khoán

Dịch vụ chứng khoán Việt Nam có nhiều triển vọng phát triển trong tương lai. Sự gia tăng đầu tư nước ngoài và cải cách trong quản lý sẽ tạo ra nhiều cơ hội mới cho thị trường.

5.2. Những thách thức cần vượt qua

Để phát triển bền vững, dịch vụ chứng khoán Việt Nam cần vượt qua nhiều thách thức. Các vấn đề như cải cách pháp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo tính minh bạch sẽ cần được giải quyết.

24/07/2025
Tác động của các cam kết gia nhập wto đến dịch vụ chứng khoán tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ chứng khoán và vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO - Chương 2: Tác động của các cam kết gia nhập WTO đến dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam - Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam thời kỳ hậu WTO 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN VÀ VẤN ĐỀ TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN TRONG KHUÔN KHỔ WTO I. Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ chứng khoán 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chứng khoán và thị trường chứng khoán 1.

Chứng khoán Việc xác định cái gì là chứng khoán hay không dựa vào luật pháp của từng nước. Theo Luật Chứng khoán Việt Nam, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành [2]. Tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng. Chứng khoán là công cụ đại diện cho giá trị tài chính và có thể được thay thế hay thỏa thuận [http://vi.org/wiki/Chứng_khoán].

Đó là những tài sản tài chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền về [1, tr72]. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Chứng khoán là hàng hóa của thị trường chứng khoán. Do sự phát triển của thị trường, hàng hóa chứng khoán ngày càng phong phú và đa dạng.

Chứng khoán thường được chia thành hai loại là chứng khoán cổ phần (như cổ phiếu) và chứng khoán nợ (như trái phiếu, trái khoán, các công cụ phái sinh). Ngoài ra còn có loại chứng khoán lai giữa hai loại trên (như các công cụ chuyển đổi, quyền mua cổ phần). Ở các nền kinh tế phát triển, loại chứng khoán nợ có tỷ trọng giao dịch áp đảo trên các thị trường chứng khoán. Còn ở những nền kinh tế kém phát triển, nơi mà thị trường chứng khoán mới được 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành lập, thì loại chứng khoán cổ phần lại chiếm tỷ trọng giao dịch lớn hơn.

Điều này giải thích tại sao ở Việt Nam cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, thị trường chứng khoán được nhiều người hiểu là nơi trao đổi các cổ phiếu. Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán [1, tr45].

Thị trường chứng khoán còn được phân chia thành thị trường tập trung và phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất. Hình thái điển hình là Sở giao dịch chứng khoán. Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.

Thị trường phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường này, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận. Dịch vụ chứng khoán và các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán 1.

Dịch vụ chứng khoán 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là dịch vụ tài chính. Dịch vụ tài chính là một dạng dịch vụ kinh doanh được cung cấp bởi ngành tài chính, có liên quan trực tiếp đến huy động vốn, dàn xếp vốn và quản lý các nguồn vốn. Trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của GATS, các dịch vụ tài chính được chia thành hai loại chính là: bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm; ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác. Một lượng lớn các tổ chức tham gia vào việc cung cấp dịch vụ tài chính bao gồm các ngân hàng, các công ty tín dụng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán và rất nhiều các tổ chức có tính chuyên môn khác.

Ở Việt Nam, chiếm số lượng áp đảo về cung cấp dịch vụ tài chính là hệ thống các ngân hàng thương mại. Dịch vụ chứng khoán là loại hình dịch vụ tài chính có liên quan đến đến các hoạt động trong thị trường chứng khoán, nhờ đó hàng hóa trên thị trường chứng khoán được lưu thông và có tính thanh khoản cao. Các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán Các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán là các tổ chức cung cấp loại hình dịch vụ chứng khoán ra thị trường. Nó đóng vai trò là tổ chức trung gian có tác dụng như dầu bôi trơn cho guồng máy vận hành của toàn bộ thị trường chứng khoán [3, tr4].

Thị trƣờng dịch vụ chứng khoán 2. Cung Các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán là những đối tượng cung cấp dịch vụ chứng khoán ra thị trường. Mặc dù có thể có nhiều tên gọi và hình thức tổ chức khác nhau nhưng về cơ bản các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán ở các nước đều có những chức năng và hoạt động dịch vụ giống nhau. Hiện tại phổ biến nhất ở Việt Nam là hình thức công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư.

Mô hình ngân hàng đầu tư cũng được chú ý trong những năm gần đây. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các chủ thể kinh doanh dịch vụ chứng khoán là một trong những chủ thể quan trọng bậc nhất của thị trường chứng khoán. Do tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xây dựng mô hình cũng nhiều điểm khác nhau ở các nước. Mô hình tổ chức của tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán ở mỗi nước đều có những đặc điểm riêng tùy theo đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người làm công tác quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, ta có thể khái quát lên ba mô hình cơ bản là: ngân hàng đa năng toàn phần, ngân hàng đa năng một phần và công ty chuyên doanh chứng khoán. Mô hình thứ nhất là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Trong mô hình này không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa các hoạt động ngân hàng và chứng khoán. Trong hệ thống ngân hàng đa năng, các ngân hàng thương mại cung cấp một danh mục đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm, tất cả trong một pháp nhân duy nhất.

Do vậy, các rủi ro phát sinh từ hai hoạt động này được dồn chung lại và chỉ có một cơ quan quản lý đưa ra quy định chung về khả năng thanh toán cho cả hai loại hình kinh doanh. Đó là phương thức hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình là ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Đây cũng là mô hình tổ chức và hoạt động của các ngân hàng tại hầu hết các nước thuộc Lục địa Châu Âu trước khi có các quy định về vốn của EU. Mô hình thứ hai là hệ thống ngân hàng đa năng kiểu Anh hay còn gọi là mô hình đa năng một phần, được áp dụng tại Anh và một số nước có quan hệ gần Anh như Canada và Úc.

Các ngân hàng đa năng kiểu Anh tham gia vào các hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán, nhưng nó khác với ngân hàng đa năng kiểu Đức ở điểm việc tham gia vào lĩnh vực chứng khoán được thực hiện thông qua các công ty con có tư cách pháp nhân độc lập. Mô hình thứ ba thể hiện sự khác biệt pháp lý giữa hai ngành ngân hàng và chứng khoán như ở Mỹ và Nhật, đó là mô hình chuyên doanh. Theo mô 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình này, các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán là các công ty chuyên doanh độc lập, các ngân hàng không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Mặc dù các hoạt động ngân hàng và chứng khoán tách rời nhau về mặt pháp lý theo Đạo luật Glass Steagall tại Mỹ và Điều 65 của Luật Chứng khoán Nhật, trong hai nước này, các ngân hàng thương mại tham gia ngày càng nhiều hơn vào hoạt động kinh doanh chứng khoán và mô hình này có xu hướng trở thành các ngân hàng đa năng kiểu Anh.

Về mặt pháp lý, các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán có thể được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, hay công ty cổ phần. Việc lựa chọn hình thức pháp lý của tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán như trên tùy thuộc vào điều kiện thực tế về kinh tế xã hội và môi trường pháp lý của từng nước. Tuy nhiên, một xu thế rõ nhất hiện nay là các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán được thành lập dưới dạng các công ty cổ phần. Lý do chỉ đơn giản là mô hình công ty cổ phần có rất nhiều ưu thế nổi trội hơn so với các mô hình khác như cơ cấu quản trị và điều hành chặt chẽ, linh hoạt và dễ dàng trong việc huy động vốn.

Cho dù được tổ chức dưới bất kỳ hình thức nào, các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán cũng phải tuân thủ chặt chẽ hai nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động là nguyên tắc tài chính (quy định về mức vốn, sử dụng vốn và hạn mức kinh doanh) và nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp. Đặc trưng của các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán nhân tố con người có vai trò quyết định và chịu ảnh hưởng lớn từ trình độ phát triển của thị trường tài chính. Cầu Những đối tượng có nhu cầu về dịch vụ chứng khoán chính là những nhà phát hành và nhà đầu tư chứng khoán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ