LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những thập kỷ gần đây đã chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế thế giới. Sự tăng trưởng này đã được thúc đẩy một phần bởi sự gia tăng và phát triển không ngừng trong hoạt động thương mại quốc tế. Trong đó, tự do hóa thương mại luôn là một vấn đề nóng hổi mà các quốc gia đang đặt lên hàng đầu.
Hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam đều nhận thức được rõ vai trò quan trọng cũng như ảnh hưởng, lợi ích to lớn mà xu hướng này đem lại trong tất cả lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tính đến tháng 1 năm 2022, Việt Nam đã ký 15 Hiệp định thương mại tự do (FTA) (có hiệu lực 15/15), 2 FTA đang đàm phán (Việt Nam - EFTA FTA; Việt Nam - Israel FTA). Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gia nhập các diễn đàn, hiệp hội, tổ chức kinh tế như: Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (World Trade Organization), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), … Có thể thấy, việc ký kết các hiệp định và tham gia những tổ chức thế giới đã góp phần đưa nước trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế chủ động, có độ mở cửa lớn và xây dựng được quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia khác, tạo điều kiện phát triển và tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong điều kiện kiện tự do hóa thương mại, khi các hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan cản trở việc mở cửa, buôn bán hàng hóa và giao lưu dịch vụ từng bước được xóa bỏ, các quốc gia cần phải tận dụng xu thế đó và ưu tiên, chú trọng phát triển những ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh.
Nước ta có lợi thế về vận tải biển do gần các tuyến đường biển quốc tế và trong khu vực. Nằm trong khu vực kinh tế phát triển cao, biển Việt Nam là cầu nối giữa nhiều cường quốc lớn về kinh tế và chính trị trên thế giới. Đây là những điều kiện vô cùng tốt để phát triển ngành công nghiệp hàng hải, đóng tàu và dịch vụ logistics của Việt Nam. Theo Nghị quyết số 36- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 thì đến năm 2030, tất cả các ngành kinh tế mục tiêu cụ thể của kinh tế biển sẽ đóng góp 10% GDP cả nước; nền kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước chiếm 65-70% GDP cả nước.
Khi Việt Nam thực hiện các cam kết thương mại tự do, Nhà nước và doanh nghiệp 1 hoạt động trong lĩnh vực vận tải biển đều hy vọng vào những chuyển biến tích cực mà xu thế này mang lại. Tuy nhiên, với tác động của những yếu tố khách quan, ngành hàng hải Việt Nam sẽ vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức trong tương lai. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Tác động của hoạt động tự do hóa thương mại đến hoạt động kinh doanh vận tải biển tại Việt Nam” làm đề tài khóa luận kết thúc chương trình học. Bài khóa luận phân tích các yếu tố liên quan đến tự do hóa thương mại và đo lường tác động của chúng đến lĩnh vực vận tải biển tại Việt Nam, từ đó khuyến nghị một số giải pháp để tận dụng tối đa lợi ích cũng như tối thiểu hóa những khó khăn mà ngành hàng hải Việt Nam phải đối mặt trong tiến trình thương mại tự do.
Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu nước ngoài Trong hơn một thập kỷ qua, các quốc gia trên thế giới đều tham gia vào xu thế tự do hóa thương mại và đây cũng chính là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Có một khối lượng lớn bài nghiên cứu về vấn đề mở cửa thương mại từ trước đến nay, các tác giả phân tích, nghiên cứu và đo lường về tự do hóa thương mại để xác định rằng biến số này có vai trò và mối quan hệ như thế nào đối với nền kinh tế và sự phát triển toàn diện của một quốc gia. Năm 1776, Adam Smith xuất bản “An inquiry into the nature and causes of the Wealth of Nations”, đặt ra logic của quản trị hạn chế, thương mại tự do và phát triển kinh tế.
Tác giả khẳng định rằng chuyên môn hóa có thể mang lại lợi ích cho các quốc gia nhiều như họ có thể mang lại lợi ích cho các công ty. Lý luận trong bài được tóm tắt là sự khác biệt về chi phí sản xuất khiến giá tương đối khác nhau, dẫn đến chuyên môn hóa và trao đổi. Điều này dẫn đến việc các quốc gia thương mại đạt được sản lượng thực lớn hơn và mức sống cao hơn. David Ricardo (1817) cho rằng các quốc gia sẽ có lợi hơn nếu họ chuyên sản xuất những mặt hàng mà họ sản xuất hiệu quả hơn và trao đổi thương mại với nhau.
Điều này sẽ không chỉ cung cấp hàng hóa rẻ hơn mà còn giúp người dân tận hưởng nhiều loại hàng hóa và dịch vụ không 2 có sẵn trong nước, đồng thời sẽ làm tăng tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ trên thị trường chung. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu đều gắn mức độ mở cửa và tự do hóa thương mại với một lĩnh vực nào đó. “Openness, Trade Liberalization, and Growth in Developing countries” của Sebastian Edwards (1993) đã xem xét về mối quan hệ giữa định hướng thương mại và hiệu quả kinh tế. Bài báo nghiên cứu ở nhiều quốc gia về các giai đoạn tự do hóa, xây dựng mô hình về mối quan hệ giữa xuất khẩu, điều kiện thị trường và tăng trưởng kinh tế.
Harrison (1995), Pritchett (1996) cũng thừa nhận về mối quan hệ giữa mức độ mở cửa thương mại và tốc độ tăng trưởng sản lượng quốc gia. Để đo lường tác động về tự do hóa thương mại, P.MacLaren (2002) đã phân tích CGE để tính toán các thước đo cân bằng chung về độ mở. Một nhóm các thước đo độ mở được rút ra dựa trên khoảng cách đơn vị và diễn giải phúc lợi quốc gia. Yanikkaya (2003) đã sử dụng thước đo độ mở thương mại để nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhiều biện pháp mở cửa thương mại và tăng trưởng.
Các biện pháp khác nhau về khối lượng thương mại (Tỷ trọng thương mại, tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu trong GDP được phát hiện là có tương quan đáng kể và tích cực với tăng trưởng. “A new approach to measuring Trade openness” của Squalli, Wilson (2006) đề xuất một thước đo tỷ trọng thương mại tổng hợp phản ánh thực tế đầy đủ hơn bằng cách kết hợp hai khía cạnh thương mại và tầm quan trọng tương đối của cấp độ thương mại của một quốc gia đối với tổng thương mại thế giới. Huchet- Bourdon, Mouel, Vijil (2017) đã đề xuất hai khía cạnh bổ sung của hội nhập thương mại giữa các quốc gia: chất lượng xuất khẩu và xuất khẩu đa dạng. Nhóm tác giả chỉ ra một mô hình phi tuyến tính thú vị giữa độ mở thương mại và tăng trưởng khi tính đến xuất lượng xuất khẩu: thương mại có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng khi quốc gia chuyên môn hóa các sản phẩm chất lượng thấp và ngược lại khi quốc gia chuyên môn hóa sản phẩm chất lượng cao.
Bên cạnh đó, tác động của đa dạng xuất khẩu có vẻ tích cực đối với hầu hết các quốc gia, ngoại trừ các quốc gia có mức tăng trưởng thấp. Xét về tác động của tự do hóa thương mại đến hoạt động kinh doanh vận tải biển trên thế giới, có rất nhiều công trình khoa học, công bố quốc tế nghiên cứu về đề tài này. “Trade and international Transport services: An Analytical framework” 3 của Andriamananjara (2004) cho rằng tự do hóa lĩnh vực dịch vụ vận tải quốc tế thúc đẩy thương mại quốc tế rất giống với cách tự do hóa thuế quan. Chlomousdis và các cộng sự (2007) đã khẳng định rằng việc tự do hóa vận tải biển tạo thành một tiến bộ đáng kể và quan trọng không chỉ trong thị trường vận tải biển mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của các vùng đảo xa.
Nhóm tác giả trình bày các quy trình điều chỉnh khác nhau và các mô hình dịch vụ vận tải biển trên khắp các nước EU. Lee, Cho (2017) đã điều tra tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTA) đối với thương mại dịch vụ vận tải bằng cách sử dụng dữ liệu của OECD từ 2003 đến 2006. Tác giả chỉ ra rằng các FTA có tác động tổng thể tích cực đến dịch vụ vận tải ở nhiều quốc gia và các điều khoản trong FTA khuyến khích các tác nhân kinh tế tăng cường tham gia vào các dịch vụ vận tải do mở rộng sự vận chuyển vật lý của hàng hóa qua biên giới quốc tế. Goni (2022) đã tiến hành phân tích dữ liệu bảng ở 23 quốc gia Châu Âu để xác định và đánh giá các yếu tố kinh tế và liên quan đến ngành hình thành nên ngành vận tải biển và chi phí vận tải.
Tác giả khẳng định rằng tăng trưởng của các nền kinh tế phương Tây và đang phát triển, cũng như tăng năng suất góp phần mở rộng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Ngoài ra, tăng trưởng đội tàu toàn cầu cũng ảnh hưởng tích cực đến hoạt động cảng miễn là cơ sở cảng có thể đáp ứng tàu lớn hơn và các yếu tố sản xuất khác được mở rộng tương ứng. Nghiên cứu trong nước Không những trên thế giới, ở Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và thực hiện những công trình khoa học về tự do hóa thương mại cũng như những tác động của tự do hóa thương mại đến nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động hàng hải, có thể kể đến như: Bùi Thành Nam (2006) đã nghiên cứu các chính sách tự do hóa thương mại của Hoa Kỳ và đưa ra kết luận rằng dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng toàn cầu hóa kinh tế, sự tăng trưởng bùng nổ của nhu cầu tiêu dùng và sản xuất không chỉ trở thành nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững của Hoa Kỳ mà còn là cơ sở để Hoa Kỳ tiếp tục duy trì chính sách mậu dịch tự do. Hoa Kỳ đã điều chỉnh chính sách thương mại để đẩy nhanh quá trình tự do hóa nhưng các chính sách mới đang có tác động tiêu cực đến các diễn đàn đa phương.
Nguyễn Tiến Dũng (2011) đã xây 4 dựng mô hình nhằm phân tích tác động của Khu vực Thương Mại Tự do ASEAN - Hàn Quốc tế xuất khẩu và nhập khẩu Việt Nam.