chương I, chương II sẽ giới thiệu về đặc thù của ngành kế toán, các khái niệm, lý thuyết liên quan đến Trí tuệ cảm xúc và căng thẳng trong công việc, giới thiệu về các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu và cuối cùng là đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất.1 Căng thẳng (stress) Ban đầu, căng thẳng đã được xem chủ yếu như là một thử thách về thể chất của con người. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học cho các binh sĩ sau khi giải ngũ đã phát hiện ra rằng sự căng thẳng liên quan đến cảm xúc (Butt, 2009). Căng thẳng được định nghĩa là "một trạng thái lo lắng phát sinh từ thực tế hoặc nhu cầu rõ ràng được gọi là sự thay đổi hành vi" (Lazarus, 1999; trích từ Butt, 2009). Thông thường, căng thẳng là một trạng thái cảm xúc khó chịu, gây ra thiệt hại cho cá nhân và tổ chức về hiệu quả công việc, sức khỏe người lao động, sự vắng mặt của cá nhân, tai nạn lao động (Butt, 2009).Cơ thể sẽ có những phản ứng khi có căng thẳng, và nếu căng thẳng kéo dài nó sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe như ung thư, cao huyết áp, tâm lý buồn phiền và suy sụp (Palmer và các cộng sự, 2003).
Các cá nhân khác nhau sẽ có những phản ứng khác nhau trước căng thẳng do các yếu tố tác động từ bên trong như: tuổi tác, tính cách, giới tính, kinh nghiệm… 2.2 Căng thẳng trong công việc Theo Lazarus và Folkman (1984, trích từ nghiên cứu của Nurmi, 2010) căng thẳng trong công việc là kết quả của quá trình đánh giá các sự kiện hoặc yêu cầu tại nơi làm việc là có hại, có tính đe dọa hay gây khó khăn. Trang 7 Nguyên nhân của sự căng thẳng trong công việc có thể là do tình trạng quá tải công việc, sự xung đột về vai trò, người quản lý không tốt, bản thân không đủ năng lực, cá nhân không phù hợp với công việc, thành tích không được công nhận, công việc không được mô tả rõ ràng, sự phát triển sự nghiệp không chắc chắn, sự định kiến về tuổi tác, giới tính, sắc tộc hay tôn giáo…(Spooner-Lane, 2004). Việc tăng sự căng thẳng trong công việc là nguyên nhân gia tăng nguy cơ mắc bệnh bệnh tim mạch vành và bệnh tâm thần (Cooper & Marshall, 1976; trích từ nghiên cứu Smith, 2012). Căng thẳng trong công việc là một trong mười nguyên nhân dẫn đầu gây ra các vấn đề về sức khỏe liên quan đến công việc (Blix và cộng sự, 1994; trích từ nghiên cứu của Viljoen và Rothmann, 2009).
Căng thẳng trong công việc tác động xấu đến sức khỏe của nhân viên và ảnh hưởng đến sức khỏe và sự tồn tại của tổ chức (Viljoen và Rothmann, 2009). Nghiên cứu này sử dụng khái niệm của Parker và Decotiis (1983) “căng thẳng trong công việc là một tình huống gây cảm giác khó chịu cho một cá nhân khi các yêu cầu của công việc không cân bằng với khả năng của chính cá nhân đó”.3 Trí tuệ cảm xúc (Emotional intelligence-EI) Nguồn gốc của trí tuệ cảm xúc được Thorndike (1920) phát hiện trong nghiên cứu về trí tuệ xã hội, nó liên quan đến khả năng hiểu, quản lý và hành động một cách khôn ngoan trong quan hệ con người. Ông đã định nghĩa “trí thông minh là năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường xung quanh mình” (trích từ nghiên cứu của Mo, 2010). Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu khác đã nghiên cứu sâu hơn và đưa ra các định nghĩa khác về trí tuệ cảm xúc Theo Mayer và Salovey (1993;1997), Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết và bày tỏ cảm xúc, hòa cảm xúc vào suy nghĩ, để hiểu, suy luận về cảm xúc và để điều khiển, kiểm soát cảm xúc của mình và của người khác; Bar-On (1997;2004) thì cho là Trí tuệ cảm xúc là một tổ hợp các năng lực phi nhận thức và những kỹ năng chi phối năng lực của cá nhân nhằm đương đầu có hiệu quả với những Trang 8 đòi hỏi và sức ép từ môi trường; Daniel Goleman (1995;1998) định nghĩa Trí tuệ cảm xúc là một hình thức của trí tuệ liên quan đến các khía cạnh tinh thần do cuộc sống mang lại.
Theo Petrides và Furnham (2001),Trí tuệ cảm xúc là một hỗn hợp các đặc điểm như là cảm giác hạnh phúc, tính đa cảm, khả năng tự kiểm soát, tính hòa đồng. Trong nghiên cứu này, tác giả vận dụng lý thuyết trí tuệ cảm xúc của Petrides và Frunham vì đây là lý thuyết được áp dụng rộng rãi để nghiên cứu mức độ căng thẳng, áp lực tại nơi làm việc (Pérez và các cộng sự, 2005).2 Các lý thuyết về trí tuệ cảm xúc Theo Pérez và các cộng sự (2005) trong lịch sử nghiên cứu về Trí tuệ cảm xúc, có rất nhiều lý thuyết đã được đưa ra nhưlý thuyết của Mayer và Salovey (1990;1997), Bar- On (1997;2004), Schutte và các đồng nghiệp (1998), Goleman (1995;1998), Petrides và Furnham (2001), Wong và Law (2002). Trong đó có bốnlý thuyết nổi tiếng, được xem là nền tảng và được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu sử dụng trên phạm vi toàn cầu, đó là của Mayer và Salovey (1990;1997),Bar-On (1997),Goleman (1995;1998), Petrides và Furnham (2001).1 Lý thuyết trí tuệ cảm xúc thuần năng lực của Mayer và Salovey (mental ability model of emotional intelligence (1990;1997) Mayer và Salovey là các nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra được lý thuyết của trí tuệ cảm xúc vào năm 1990.Hai nhà nghiên cứu trên đã nhận thức được trí tuệ cảm xúc là một trí thông minh thuần túy, gồm có hai khả năng đặc biệt về cảm xúc và tình cảm. Mayer và Salovey (1997) mô tả trí tuệ cảm xúc gồm có bốn nhánh năng lực: Nhánh thứ nhất là năng lực nhận biết các cảm xúc: gồm một phức hợp các kỹ năng cho phép một cá nhân biết cách cảm nhận, thấu hiểu, và biểu lộ các cảm xúc.
Các năng lực cụ thể ở đây bao gồm nhận dạng những cảm xúc của mình và Trang 9 của người khác, bày tỏ cảm xúc của mình và phân biệt được những dạng cảm xúc mà người khác biểu lộ. Nhánh thứ hai là năng lực sử dụng các cảm xúc để hỗ trợ, thúc đẩy tư duy: dùng những cảm xúc này để hỗ trợ óc phán xét, nhận thức được rằng những thay đổi tâm trạng có thể dẫn đến sự xem xét những quan điểm thay thế và hiểu rằng một sự thay đổi trong trạng thái cảm xúc và cách nhìn có thể khuyến khích nảy sinh các loại năng lực giải quyết vấn đề khác nhau. Nhánh thứ ba là năng lực hiểu các cảm xúc và qui luật của cảm xúc: hiểu biết về nguyên nhân và tiến trình phát triển của cảm xúc, hiểu được sự pha trộn phức tạp của các loại tình cảm và đề ra các quy luật về tình cảm. Nhánh thứ tư là năng lực quản lý các cảm xúc: kiểm soát, tự điều khiển cảm xúc của bản thân, sắp đặt các cảm xúc nhằm hỗ trợ một mục tiêu xã hội nào đó, điều khiển cảm xúc của người khác.2 Lý thuyết hỗn hợp về trí tuệ cảm xúc (Mixed model of Emotional Intelligence) Ngoài lý thuyết trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng lực, cũng có hướng tiếp cận xây dựng lý thuyết TTCX theo kiểu hỗn hợp – pha trộn giữa năng lực nhận thức về cảm xúc và các thuộc tính cá nhân.
Theo xu hướng này có một số tác giả tiêu biểu như Daniel Goleman, Reuven Bar-On 2.1 Lý thuyết trí tuệ cảm xúccủa Daniel Goleman (1995;1998) Sau nghiên cứu của Salovey và Mayer trong năm 1990, Daniel Goleman bắt đầu nghiên cứu của mình về chủ đề trí tuệ cảm xúc. Ông đã xuất bản cuốn sách “Emotional Intelligence” (1995), trong đó khái niệm Trí tuệ cảm xúc đã trở nên phổ biến hơn. Daniel Goleman giới thiệu lý thuyếtTTCXchủ yếu tập trung vàosự kết hợp của khả năng cảm xúc và các yếu tố tính cách, động lực, kỹ năng xã hộitại nơi làm việc. Theo Goleman (1998) năng lực cảm xúc không phải là bẩm sinh, nó có thể được học hỏi và Trang 10 phát triển, mỗi cá nhân được sinh ra với một trí tuệ cảm xúcthông thường, đó là năng lực đặc trưng cho việc học hỏi cảm xúc.Nghiên cứu của Goleman(1998) đưa ra năm khía cạnh của TTCX là: tự nhận thức (self awareness), tạo động lực (self motivation), tự kiểm soát, quản lý mình (self regulation), nhận biết các quan hệ xã hội (empathy), quản lý điều khiển các mối quan hệ xã hội (social skills).2 Lý thuyết trí tuệ cảm xúccủa Reuven Bar-On (1997;2004) Lý thuyết của Reuven Bar-On (1997;2004) là lý thuyết về trí thông minh, nó được kết hợp bởi đặc tính cá nhân và khả năng nhận thức, bao gồm các năng lực: Năng lực nhận biết, hiểu và biết cách bộc lộ cảm xúc của mình.
Năng lực nhận biết, hiểu và cảm thông với người khác. Năng lực ứng phó với những cảm xúc mạng và kiểm soát, làm chủ các cảm xúc của mình. Năng lực thích ứng với những thay đổi và giải quyết vấn đề của cá nhân hay xã hội. Giữ được tâm trang chung ổn định, tích cực.3 Lý thuyết trí tuệ cảm xúc đặc điểm của Petrides và Furnham (2001) Petrides và Furnham (2001) đã đưa ra một cấu trúc trí tuệ cảm xúc gồm mười lăm khía cạnh chia thành bốn thành tố: tính đa cảm, khả năng tự kiểm soát, tính hòa đồng và hạnh phúc.1Tính đa cảm (emotionality) Nhận thức cảm xúc là sự hiểu rõ cảm xúc của bản thân cũng như của người khác.
Sự đồng cảm là việc hiểu được nhu cầu và mong muốn của người khác. Biểu hiện cảm xúc là khả năng bày tỏ cảm xúc một cách chính xác và rõ ràng. Khả năng xây dựng và duy trì mối quan hệ cá nhân.2Khả năng tự kiểm soát (self-control) Điều chỉnh cảm xúc là kiểm soát cảm xúc và trạng thái tình cảm. Quản lý căng thẳng là việc điều tiết cảm xúc giúp giải quyết những căng thẳng.
Bốc đồng là làm một việc theo ý mình, thường xuyên thay đổi suy nghĩ. Khả năng thích nghi là khả năng thích ứng với môi trường và điều kiện mới.3Tính hòa đồng (sociality) Sự quyết đoán là thái độ dứt khoát, thẳng thắn, sẵn sàng đấu tranh vì quyền lợi cá nhân. Quản lý cảm xúc là khả năng tạo ảnh hưởng lên cảm xúc của người khác. Nâng cao nhận thức xã hội là khả năng kiểm soát cảm xúc của mình và cách thể hiện cảm xúc đó.4Hạnh phúc (well-being) Lòng tự trọng thể hiện qua sự thành công và tự tin.