Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Xây dựng mô hình Chương 3: Quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Vài nét về tình hình nghiên cứu lo âu ở Việt Nam: Ở nước ta hiện nay vấn đề sức khỏe tâm thần đối với trẻ em và vị thành niên đang được các ngành các cấp quan tâm. Tuy nhiên, đa số những công trình nghiên cứu đều tập trung tìm ra nguyên nhân gây rối nhiễu tâm lý và những biện pháp can thiệp mang tính chất chung. Có rất ít các nghiên cứu độc lập, chuyên biệt đối với rối loạn lo âu và cách điều trị theo hướng trị liệu tâm lý.
Theo nghiên cứu của viện nhi trung ương: Từ năm 1982 - 1989: khoảng 10% - 26%, từ năm 1990 – 1995 có 3% - 32% ở học sinh tuổi 6 – 15 có biểu hiện rối loạn về hành vi và cảm xúc. Điều tra toàn quốc do Viện nhi thực hiện cho thấy tỷ lệ 1% - 6% học sinh có rối loạn cảm xúc. Một số nghiên cứu trong nước cho thấy tỷ lệ trẻ em Việt Nam có rối loạn lo âu cao. Điển hình, nghiên cứu của bác sĩ Hoàng Cẩm Tú cùng cộng sự trên hơn 1500 trẻ tại hai phường Kim Liên và Trung Tự - quận Đống Đa – thành phố Hà Nội (2000) cho thấy có tới 1,9% - 3% trẻ có lo âu – trầm cảm.
Nghiên cứu của nhà nghiên cứu Nguyễn Công Khanh (2000) trên 503 học sinh trung học cơ sở cho thấy tỉ lệ trẻ đã từng trải qua rối loạn lo âu là rất cao: 17,65% - 19,20%. Nghiên cứu “Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tâm lý – tâm thần cho học sinh phổ thông ở Đồng Nai” do BS.Nguyễn Văn Thọ và cộng sự thực hiện (1998 – 2000) cho thấy lo âu – trầm cảm chiếm tỷ lệ từ 10% - 21% trong số các học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Nghiên cứu về nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu đối với học sinh trường trung học phổ thông chuyên Quảng Bình. Với đề tài thạc sỹ của mình tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương đã đưa ra bốn nhóm nguyên nhân chính gây ra rối loạn lo âu ở học sinh: nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, nhóm nguyên nhân liên quan đến gia đình, nhóm nguyên nhân liên quan đến 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các mối quan hệ xã hội và nhóm nguyên nhân liên quan đến bản thân học sinh.
Trong đó, nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập là nhóm nguyên nhân chính gây ra lo âu cho các em học sinh ở trường THPT Chuyên Quảng Bình. Việc học tập đem đến cho các em áp lực nặng nề, nhất là kết quả học tập thực sự là nỗi băn khoăn, lo lắng và cũng là sự ám ảnh của các em trong số khách thể của luận văn. Tác giả cũng có những buổi trị liệu cá nhân đối với học sinh. Tuy nhiên, những buổi trị liệu ấy mới chỉ dừng lại ở mức độ khuyên giải và giúp học sinh có thể cân bằng cảm xúc tạm thời, chưa thực hiện được mô hình theo trình tự để học sinh có thể khống chế lo âu sau trị liệu.
Đáng chú ý là đề tài nghiên cứu “Bước đầu áp dụng mô hình trị liệu nhận thức hành vi cho trẻ em có rối loạn lo âu”của nhóm tác giả Trần Thành Nam, Đặng Hoàng Minh, Nguyễn Thị Hồng Thúy và Cao Vũ Hùng. Nghiên cứu xây dựng mô hình hành vi – nhận thức cho trẻ có rối loạn lo âu và áp dụng để điều trị cho 20 trẻđược chẩn đoán là RLLA. Sau quá trình trị liệu nhóm tác giả đã đưa ra kết quả có 11 trẻ cùng gia đình tuân thủ đầy đủ cam kết, 9 trẻ cùng gia đình không thực hiện đúng cam kết. Sau 8 buổi làm việc thì thang điểm CBCL của trẻ đã giảm hẳn, trẻ hết RLLA theo chẩn đoán của DSM IV.
Với nghiên cứu này, nhóm tác giả đưa ra mô hình nhận thức – hành vi. Mô hình chữa trị được coi là hiệu quả đối với trẻ có rối loạn lo âu và chứng minh rằng với những trẻ có rối loạn lo âu nếu thực hiện đầy đủ các phiên trị liệu thì vấn đề lo âu ở trẻ sẽ giảm dần và có thể hết hẳn. Tuy nhiên, trong các buổi làm việc, nhóm nghiên cứu quá chú trọng đến thư giãn mà chưa có bước chuẩn bị cho thân chủ sau khi trị liệu kết thúc. Thân chủ chấm dứt hẳn lo âu tại thời điểm hiện tại, nhưng lo âu có thể quay trở lại khi gặp phải những vấn đề khó giải quyết trong tương lai.Chính vì thế cần phải có sự chuẩn bị cho thân chủ khi lo âu quay trở lại để ứng phó được bằng cách sử dụng những kỹ thuật đã học.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vài nét tình hình nghiên cứu lo âu ở nƣớc ngoài: Hướng nghiên cứu về nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu, phải kể đến công trình của M.Prior và cộng sự (1983 – 2001).443 trẻ được tham gia vào công trình nghiên cứu theo chiều dọc từ lúc trẻ mới sinh đến 18 tuổi. Kết quả cho thấy 42% trẻ em có tính hay xấu hổ, nhút nhát, thu mình trước 9 tuổi thường có rối loạn lo âu vào giai đoạn 13-14 tuổi. Warren và Huston (1997) cho rằng mối quan hệ gắn bó mẹ con kéo dài làm tăng trạng thái lo âu của trẻ. Sự gắn bó kéo dài là một yếu tố dự đoán quan trọng về trạng thái lo âu của trẻ em Hướng nghiên cứu về trị liệu cho rối loạn lo âu có rất nhiều trường phái khác nhau.
Gần đây, trị liệu lo âu dựa trên trường phái tâm lý học hành vi – nhận thức đang được sự quan tâm của các nhà tâm lý. Đầu tiên, phải nói đến công trình nghiên cứu của Jacqueline B.Persons “hướng dẫn trị liệu dựa trên thực chứng” cung cấp các bằng chứng để hướng dẫn trị liệu đối với từng thân chủ cụ thể giúp các nhà tâm lý phát triển kế hoạch trị liệu dựa trên những hiệu quả can thiệp đã được chứng minh. Tiếp đó là sự ra đời của cuốn sách “mô hình hành vi – nhận thức đối với trẻ lo âu” của Bruce F. Cuốn sách này hướng dẫn trị liệu lo âu đối với từng cá nhân dựa trên thực chứng.Những kỹ thuật trong cuốn sách được chứng minh là có hiệu quả qua kết quả nghiên cứu của Chorpita, Taylor, Fraincis, Moffitt và Austin (2004).
Quá trình nghiên cứu, viết luận văn tôi đã dịch và tham khảo những mô hình trong cuốn sách này để xây dựng mô hình hành vi nhận thức phù hợp với học sinh trung học phổ thông có rối loạn lo âu tại Việt Nam. Chương trình trị liệu của Phillip Kendall với tên gọi “Coping cat workbook”, và chương trình can thiệp lo âu của tác giả Úc Paula Brret, Jane Hollmes (1999) với tên gọi “Friends”. Hai chương trình trị liệu này được Wignall và Rapee (1998) ứng dụng để trị liệu lo âu mang lại những kết quả được thừa nhận. Tác giả Paul Stallard với chương trình can thiệp “Think 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com good – Fell good” mang đến một tiến trình trị liệu cụ thể và đầy đủ cho các nhà lâm sàng.
Học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm học sinh trung học phổ thông Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Trung học phổ thông là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, đứng sau tiểu học, trung học cơ sở và trước cao đẳng hoặc đại học. Trung học phổ thông kéo dài 3 năm (từ lớp 10 đến lớp 12).Để tốt nghiệp bậc học này, học sinh phải vượt qua kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào cuối năm học lớp 12 (thi tốt nghiệp cấp 3) (trước đây thường gọi là Thi tú tài). Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông Những yếu tố tâm lý lứa tuổi tác động hình thành lo âu của học sinh THPT.
Sự phát triển tự ý thức: Đây là lứa tuổi tự khẳng định, nên sự nhìn nhận về bản thân sâu sắc, nghiêm khắc hơn so với lứa tuổi trung học cơ sở. Mặt khác các em không chỉ nhìn nhận cái tôi của bản thân trong hiện tại mà còn nhận thức vị trí của mình trong xã hội và tương lai. Các em nhìn nhận vai trò của mình đối với gia đình và xã hội. Chính điều này khiến các em phải tự hoàn thiện để có thể phù hợp với yêu cầu của gia đình và đáp ứng đòi hỏi của xã hội.
Nếu không đạt được những điều này sẽ khiến các em lo lắng, chán nản và thất vọng. Lí tưởng sống và tính tích cực xã hội của học sinh THPT: Lứa tuổi này các em thể hiện lý tưởng sống khá rõ, tạo nên áp lực cố gắng hết sức trong học tập để có thể khẳng định bản thân. Đồng thời thiên hướng lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai là một trong những yếu tố khiến học sinh THPT căng thẳng và mệt mỏi. Việc lựa chọn nghề nghiệp ảnh hưởng rất nhiều từ mong đợi của cha mẹ và những đòi hỏi của xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển đặt ra yêu cầu đối với 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mỗi công dân phải có một nền tảng kiến thức nhất định để đáp ứng với nền kinh tế tri thức. Cha mẹ mong muốn con mình lập thân bằng con đường học vấn do đó không tiếc sức đầu tư cho con. Những yếu tố này tạo nên áp lực quá lớn đối với các em. Xu hướng chọn trường, những mong đợi từ cha mẹ và vinh dự của bản thân đối với xã hội vô hình chung đã tạo nên một áp lực khiến không ít học sinh trung học phổ thông cảm thấy căng thẳng, đuối sức, chán nản, tuyệt vọng và mất phương hướng.
Lĩnh vực tình cảm của học sinh trung học phổ thông Tình bạn: Tình bạn lứa tuổi này đi vào chiều sâu hơn, tiêu chí kết bạn là sự đồng cảm, tâm tình, thân mật, ấm áp, cùng chí hướng phấn đấu vì giá trị nào đó. Do tự ý thức phát triển mạnh, thanh thiếu niên có nhu cầu tìm kiếm “cái tôi” khác bên ngoài cái tôi bản thân. Nhu cầu này xuất hiện do mong muốn có bạn để chia sẻ những rung cảm của mình. Các em tham gia vào một nhóm bạn và dành nhiều thời gian quan tâm đến nhóm bạn của mình.
Việc kết bạn giúp các em được khẳng định bản thân nhưng đồng thời cũng phải chịu sự chi phối của bạn bè rất nhiều.