CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP, KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Khái niệm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Định nghĩa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (TNXHDN) không còn đơn giản như trước đây.
Điều này được giải thích rằng các hành vi có trách nhiệm với xã hội có thể mang những ý nghĩa khác nhau ở những thời điểm khác nhau, phụ thuộc vào trong từng hoàn cảnh cụ thể. Và vì điều này nên ngày càng nhiều tài liệu liên quan đưa ra các định nghĩa mang tính chất khác nhau. Theo Keith Davis (1971), THXHDN đề cập đến việc công ty xem xét và giải quyết các vấn đề nằm ngoài các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật và luật pháp hạn hẹp của công ty. Keith Davis lập luận rằng doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đánh giá quá trình đưa ra quyết định của mình theo cách mà tác động của các quyết định đó đối với hệ thống xã hội bên ngoài đạt được lợi ích xã hội cùng với lợi ích kinh tế truyền thống mà doanh nghiệp ty tìm kiếm.
Keith Davis cũng cho rằng TNXHDN bắt đầu từ nơi luật pháp kết thúc, có nghĩa là một công ty không phải chịu TNXHDN nếu nó chỉ tuân thủ các yêu cầu tối thiểu của luật pháp. Theo McGuire (1963), “ý tưởng về trách nhiệm xã hội cho rằng công ty không chỉ có các nghĩa vụ kinh tế và pháp lý mà còn có một số nghĩa vụ xã hội vượt ra ngoài các nghĩa vụ của họ ở mức độ nào đó. Davis (1960) đã mô tả TNXHDN là "các quyết định và hành động của doanh nhân được thực hiện vì những lý do ít nhất một phần nằm ngoài lợi ích kinh tế hoặc kỹ thuật trực tiếp của công ty". Các định nghĩa gần đây về TNXHDN tập trung nhiều vào trách nhiệm của một doanh nghiệp đối với các bên liên quan của mình.
Ủy ban Châu Âu (2002) định nghĩa TNXHDN là “một khái niệm theo đó các công ty tích hợp các mối quan tâm về xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh và trong tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện”. Đây là một trong những định nghĩa về TNXHDN được chấp nhận phổ biến nhất cho tới nay. Tổ chức TNXHDN Châu Âu – một tổ chức thành viên bao gồm các công ty lớn của Châu Âu đã xác định những 7 yếu tố sau đây là các yếu tố chính của TNXHDN: nơi làm việc (nhân viên), thị trường (khách hàng và nhà cung cấp), môi trường, cộng đồng, đạo đức và nhân quyền. Để hiểu được TNXHDN một cách tường minh trong từng bối cảnh, điều quan trọng nhất là phải xem xét lại lý thuyết quản lý một cách ngắn ngọn.
Lý thuyết tối đa lợi nhuận cho rằng mục đích duy nhất của kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Điều này đạt được nhờ vượt qua tất cả các quyền sở hữu và quyền kiểm soát của các thực thể liên quan. Cổ đông thì đảm bảo rằng quyền lợi của họ được quan tâm bằng cách trao cho người quản lý cấp cao một lượng cổ phiếu nhất định, nhỏ hơn rất nhiều so với cổ phiếu đã phát hành và lớn hơn lương thực nhận của nhà quản lý. Chính vì chính sách này, doanh nghiệp đã làm mất đi cơ hội làm thỏa mãn các bên liên quan, đặc biệt là các nhà quản lý cao cấp.
Điều này dẫn tới doanh nghiệp khó tạo động lực phát triển cho các bên liên quan này, nên dẫn tới khó duy trì được sự phát triển bền vững trong tương lai. Nhận thức được vấn đề này, Post và cộng sự (2002) lưu ý rằng năng lực của một doanh nghiệp là để tạo ra của cải bền vững theo thời gian, do đó giá trị lâu dài của nó được xác định bởi mối quan hệ của chính nó với các bên liên quan sẽ là quan trọng nhất tại một thời điểm cụ thể hoặc một vấn đề cụ thể. Lý thuyết về các bên liên quan có nguồn gốc từ cuối những năm 1970 do E.Freeman khởi xướng vào thời điểm mà lý thuyết kinh tế cổ điển đặc biệt là lý thuyết về cổ đông ngày càng bị coi là lỗi thời và cần một cách tiếp cận rộng hơn bao gồm tư duy xã hội học, triết học, tâm lý học và quản lý. Freeman tin rằng một công ty có thể hoạt động tốt hơn bằng cách tính đến tất cả các bên liên quan trong việc vận hành một công ty.
Theo Freeman (1984), lý thuyết bên liên quan cho rằng lợi ích lâu dài tốt nhất cho một doanh nghiệp là quan tâm đến các bên liên quan của nó bởi vì đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp phụ thuộc vào các bên liên quan. Lý thuyết nhấn mạnh tới mối quan hệ qua lại giữa doanh nghiệp và các bên liên quan, các quy trình và kết quả của nó. Nó tuyên bố rằng khi các doanh nghiệp tập trung vào việc thu hút các bên liên quan thì trước tiên cần tập trung vào TNXHDN vì TNXHDN là một nhóm 8 bên liên quan thiết yếu. Theo các nghiên cứu trước đó, lý thuyết này có thể được sử dụng để đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách tích hợp các khía cạnh xã hội vào tất các khía cạnh của quy trình kinh doanh, nhằm đạt được sự phát triển và thúc đẩy các mục tiêu của tổ chức.
Nếu nhìn lại nhiều thập kỷ qua, chúng ta đều thấy mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho cổ đông, nhưng với sự thay đổi của thời đại, quan niệm này dần dần bắt đầu thay đổi. Lãi suất không còn là mục tiêu duy nhất mà nhiều doanh nghiệp theo đuổi, mối quan hệ giữa các bên liên quan lại ảnh hưởng đến nhiều loại lợi ích, trong đó ảnh hưởng lớn nhất là mối quan hệ giữa tổ chức, xã hội và môi trường. Do đó, quan điểm này đã khiến các nhà quản lý phải xem xét đến lợi ích của tất cả các cá nhân và thực thể khác của doanh nghiệp. Ví dụ như khi doanh nghiệp làm cho nhân viên của mình hài lòng, họ sẽ có động lực lớn hơn và thực hiện công việc của họ với hiệu quả và chất lượng cao nhất.
Điều này đã thu hút và làm hài lòng nhiều khách hàng hơn, những người sẵn sàng mua sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Khi khách hàng hài lòng, họ sẵn sàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ cho những người khác, tạo ra một hiệu ứng lan truyền tích cực cho doanh nghiệp. Sản lượng sản xuất có thể tăng, nó sẽ dẫn tới doanh nghiệp có tiếng nói tốt hơn đối với các nhà cung cấp của họ. Đây chính là vòng tròn mối quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lợi ích của các bên liên quan, trong đó có tính tới các thực thể của doanh nghiệp.
Như vậy, lý thuyết các bên liên quan là một trong lý thuyết đầu tiên đề cập tới mối quan hệ tương hỗ cùng có lợi của các thực thể bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Khi lợi ích của các bên liên quan được thỏa mãn nó sẽ thúc đẩy các giá trị có lợi khác mà doanh nghiệp có thể nhận được nhiều hơn so với việc chỉ tập trung vào gia tăng lợi nhuận đơn thuần như lý thuyết tối đa hóa đã đề cập. Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Mặc dù lý thuyết các bên liên quan đã phát triển đáng kể và nó luôn gắn liền với các hoạt động TNXHDN như một công cụ duy trì sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp.
Nhưng thực tế cho thấy rằng, nhiều doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển vẫn thường bỏ qua yếu tố công bằng về xã hội hay chỉ giới hạn tạo giá trị cho một nhóm bên liên quan (Clarkson, 1995). Điều này cho thấy sự thiếu sót nếu 9 không chuyển TNXHDN thành sự tích hợp của các bên liên quan với xã hội, môi trường và các mối quan tâm khác vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi nói đến sự phát triển bền vững của họ (Whooley, 2004). Mark-Herbert và cộng sự (2010) cho rằng, trong thế giới hiện đại này, trách nhiệm doanh nghiệp được định nghĩa lại là tham gia vào các cuộc đối thoại liên tục với các bên liên quan để giải quyết các nhu cầu khác nhau của các bên liên quan từ góc độ tổng thể - nơi hành vi bền vững của doanh nghiệp được quản lý với các giá trị kinh tế, môi trường và xã hội. Aguinis Herman (2011) cho rằng “Trách nhiệm tổ chức đề cập đến các hành động và chính sách của tổ chức theo ngữ cảnh cụ thể có tính đến kỳ vọng của các bên liên quan và ba điểm mấu chốt của kết quả hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường”.
IFAC (2005) tuyên bố rằng ‘tính bền vững cho thấy thế giới qua con mắt của các bên liên quan và giúp một tổ chức hiểu được nhiều mặt, tốt và xấu về các hoạt động điều hành ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi xã hội, nền kinh tế và môi trường. Như vậy, khi xét đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cần phải gắn trách nhiệm của các bên liên quan tới các khía cạnh về kinh tế, xã hội và môi trường, và các khía cạnh này được đề xuất trong lý thuyết “ba điểm mấu chốt” của Elkington (1999). Elkington cho rằng yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường sẽ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp bằng cách tăng lợi thế cạnh tranh của họ thông qua các mối quan hệ tương hỗ, phụ thuộc lẫn nhau và có một phần xung đột. Elkington xét ba yếu tố này trong bảy cuộc cánh mạng khác nhau về: thị trường, giá trị, tính minh bạch, công nghệ vòng đời, quan hệ đối tác, triển vọng theo thời gian và quản trị kinh doanh, nhằm cải thiện tổ chức và mở rộng tư duy kinh doanh một cách tiến bộ hơn.
Ông cũng cho rằng các bên liên quan hoạt động như một đối tượng độc lập với chủ nghĩa tư bản thuần túy, và khi khách hàng yêu cầu các tổ chức có trách nhiệm với xã hội thì các tổ chức sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc tôn trọng yêu cầu của họ. 10 Các khía cạnh của ba điểm mấu chốt sẽ được thảo luận kỹ theo các mục dưới trong khóa luận nghiên cứu này, cụ thể: 1. Khía cạnh kinh tế.Uddin và cộng sự (2008) các hoạt động TNXHDN của một doanh nghiệp phải được phân tích từ quan điểm về hiệu quả kinh tế của chúng.