Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang thúc đẩy nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển hạ tầng giao thông quy mô lớn. Tại tỉnh Long An, huyện Cần Giuộc được quy hoạch với hơn 60 dự án công nghiệp, đô thị và giao thông trên diện tích 4.279 ha, chiếm tới 20% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Việc chuyển dịch quỹ đất nông nghiệp phục vụ các công trình trọng điểm tất yếu dẫn đến tình trạng nhiều hộ nông dân mất tư liệu sản xuất, đối mặt với nguy cơ đứt gãy sinh kế và bất ổn việc làm.

Dự án đường cao tốc Bến Lức – Long Thành là công trình giao thông huyết mạch dài 58 km đi qua ba tỉnh thành, yêu cầu thu hồi 441 ha đất và tác động tới 3.150 hộ dân, trong đó có khoảng 2.150 hộ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đoạn tuyến đi qua huyện Cần Giuộc thu hồi 189.726 m² đất với 226 hộ dân bị ảnh hưởng tại hai xã Phước Lý và Long Thượng, tổng kinh phí bồi thường và hỗ trợ lên đến 188 tỷ đồng. Vấn đề nảy sinh là các bất cập về đơn giá đền bù, chênh lệch chính sách giữa các địa phương giáp ranh và sự lúng túng trong việc sử dụng tiền bồi thường để tái lập sinh kế.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích có hệ thống các yếu tố tác động đến sự thay đổi thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất trong năm 2015, đồng thời đánh giá hiệu quả sử dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học thực chứng để giải quyết 27 vụ việc khiếu nại đền bù tại địa phương, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách an sinh bền vững cho quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án hạ tầng tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Khung sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001) làm trục phân tích trung tâm. Mô hình này đánh giá sinh kế dựa trên ngũ giác tài sản gồm: vốn con người (trình độ học vấn, độ tuổi, cơ cấu lao động), vốn tự nhiên (quỹ đất nông nghiệp), vốn vật chất (nhà ở, tư liệu sản xuất), vốn tài chính (thu nhập, tiền tích lũy, tín dụng) và vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, trợ lực từ chính quyền). Các nguồn vốn này vận động dưới tác động của bối cảnh dễ bị tổn thương cùng hệ thống chính sách, thể chế nhằm hình thành các chiến lược sinh kế và đem lại kết quả sinh kế cụ thể.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết sinh kế của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 2001) về chiến lược ứng phó ngắn hạn và thích ứng dài hạn, cùng khung an ninh sinh kế hộ gia đình của Tổ chức CARE (2001). Nghiên cứu làm rõ các khái niệm pháp lý theo Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013, bao gồm: thu hồi đất, bồi thường tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và tái định cư bằng đất hoặc tiền mặt.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng để xử lý dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thống kê giai đoạn 2010 - 2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển Quỹ đất và Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc, kết hợp hệ thống văn bản pháp lý như Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT và các quyết định bồi thường của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An.
  • Dữ liệu sơ cấp: Tiến hành khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 100 hộ gia đình bị thu hồi đất và giải tỏa nhà ở tại xã Phước Lý (67 hộ) và xã Long Thượng (33 hộ) trong năm 2015.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu 100 hộ được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất, chiếm tỷ lệ đại diện 43.48% trên tổng số 226 hộ chịu tác động trực tiếp của dự án tại địa bàn huyện.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng thống kê mô tả, kiểm định t-test so sánh cặp và mô hình hồi quy đa biến OLS (Ordinary Least Squares) trên phần mềm Stata SE 12 và Excel. Mô hình OLS được lựa chọn nhằm bóc tách, lượng hóa độc lập mức độ tác động của từng biến số nhân khẩu học, diện tích thu hồi và giá trị bồi thường lên hai biến phụ thuộc là độ biến thiên thu nhập (Y1) và độ biến thiên chi tiêu (Y2).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 100 hộ dân cho thấy bức tranh chuyển dịch sinh kế rõ nét trên các chiều cạnh tài sản:

  • Biến động vốn tự nhiên và vốn vật chất: Diện tích đất nông nghiệp bình quân của mỗi hộ giảm 44.49%, từ mức 1.171 m² trước thu hồi xuống còn 650 m² sau thu hồi. Tỷ lệ hộ không còn đất canh tác nông nghiệp tăng từ 45% lên 59%. Diện tích đất ở bình quân thu hẹp từ 408 m² xuống 208 m²/hộ. Tuy nhiên, chất lượng nhà ở được cải thiện vượt bậc: tỷ lệ nhà ở kiên cố tăng từ 69% lên 86%, nhà bán kiên cố giảm từ 19% xuống 10% và xóa bỏ hoàn toàn 5% nhà tạm.
  • Chuyển dịch vốn tài chính: Tiền gửi tiết kiệm bình quân tăng gấp 13 lần, từ mức 20 triệu đồng lên 260 triệu đồng/hộ (mức cao nhất ghi nhận 3 tỷ đồng). Nợ vay tín dụng bình quân giảm từ 12 triệu xuống 7.6 triệu đồng/hộ nhờ người dân dùng tiền đền bù trả nợ. Thu nhập bình quân hộ gia đình tăng từ 83 triệu lên 94 triệu đồng/năm (tăng 13.25%), trong khi chi tiêu bình quân tăng từ 80 triệu lên 85 triệu đồng/năm (tăng 6.25%).
  • Hiệu quả chính sách và bất cập đơn giá: Dù 51% hộ gia đình nhận được khoản tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề, chỉ có 5% chủ hộ thực hiện chuyển đổi nghề nghiệp thành công. Đáng chú ý, 99% hộ dân được khảo sát khẳng định đơn giá bồi thường đất và tài sản trên đất thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Sự chênh lệch đơn giá đất nông nghiệp giáp ranh giữa huyện Cần Giuộc (404.000 đồng/m²) và huyện Bình Chánh, TP.HCM (800.000 đồng/m²) là nguồn cơn chính dẫn đến các khiếu kiện kéo dài.

Thảo luận kết quả

Kết quả ước lượng hàm hồi quy OLS cho thấy sự thay đổi thu nhập phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu lao động và giá trị bồi thường:

  • Biến số lao động sau thu hồi đất có tác động thuận chiều mạnh nhất với hệ số hồi quy β = 34.00 (mức ý nghĩa thống kê 1%, p < 0.01). Khi hộ gia đình có thêm 1 lao động sau thu hồi đất, thu nhập ròng gia tăng đáng kể nhờ chuyển dịch sang làm công nhân hoặc lao động dịch vụ tại khu vực giáp ranh TP.HCM.
  • Giá trị bồi thường và hỗ trợ tác động dương đến thay đổi thu nhập với hệ số β = 0.01 (p < 0.01). Tiền đền bù giúp tạo dòng tiền ngắn hạn qua lãi suất tiền gửi ngân hàng.
  • Các biến số như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ và diện tích đất thu hồi không có ý nghĩa thống kê đối với sự biến thiên thu nhập trong mô hình nghiên cứu.

Toàn bộ các chuỗi dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa thông qua hệ thống bảng thống kê mô tả cặp và các biểu đồ cột so sánh trực quan (biểu đồ cơ cấu nhà ở, biểu đồ biến động tài chính trước - sau giải tỏa). Kết quả này củng cố các kết luận nghiên cứu trước đây tại Củ Chi và Đồng Nai, đồng thời phản ánh cảnh báo của giới học thuật quốc tế về hiện tượng "ảo giác giàu có ngắn hạn": thu nhập tăng chủ yếu từ lãi tiết kiệm và tăng nhân khẩu đi làm thuê chứ chưa hình thành năng lực sản xuất bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả định lượng và thực trạng giải tỏa mặt bằng, các nhóm giải pháp hành động cụ thể bao gồm:

  • Hoàn thiện cơ chế định giá đất vùng giáp ranh: Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường thiết lập khung giá đất đền bù linh hoạt, tiệm cận 85% - 90% giá trị thị trường và giảm mức chênh lệch đơn giá với địa bàn giáp ranh TP.HCM xuống dưới 15%, hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2017 nhằm giải quyết dứt điểm 27 vụ khiếu nại còn tồn đọng.
  • Tái cấu trúc chính sách đào tạo nghề và việc làm: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Cần Giuộc chuyển đổi hình thức hỗ trợ tiền mặt sang cung cấp các gói đào tạo nghề chuyên sâu miễn phí gắn trực tiếp với nhu cầu tuyển dụng của hơn 60 khu, cụm công nghiệp trên địa bàn, phấn đấu đạt mục tiêu nâng tỷ lệ chuyển đổi nghề bền vững của lao động mất đất lên tối thiểu 40% trong giai đoạn 2016 - 2020.
  • Tư vấn quản lý tài chính và định hướng đầu tư hộ gia đình: Hội Nông dân và Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Cần Giuộc tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng quản lý vốn, hướng dẫn người dân phân bổ số tiền tiết kiệm bình quân 260 triệu đồng vào các mô hình kinh doanh cá thể, dịch vụ thương mại thay vì chỉ gửi ngân hàng hoặc chi tiêu mua sắm tài sản tiêu dùng.
  • Quy hoạch đồng bộ hạ tầng khu tái định cư: Ban Quản lý dự án huyện Cần Giuộc thực hiện nguyên tắc hoàn thiện 100% kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước và trạm y tế tại các khu tái định cư trước thời điểm bàn giao mặt bằng tối thiểu 3 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan địa chính: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về những xung đột lợi ích tại vùng giáp ranh, hỗ trợ xây dựng phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng khả thi và giảm thiểu khiếu kiện hành chính.
  • Ban quản lý dự án và chủ đầu tư hạ tầng giao thông: Giúp nhận diện sớm các rủi ro xã hội, đứt gãy sinh kế của cộng đồng dân cư trong hành lang tuyến, từ đó thiết kế kế hoạch tái định cư và phục hồi thu nhập phù hợp chuẩn mực quốc tế.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý công và Kinh tế phát triển: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng khung sinh kế DFID và mô hình kinh tế lượng OLS trong đánh giá tác động chính sách công.
  • Các tổ chức phát triển xã hội và an sinh cộng đồng: Khai thác dữ liệu thực địa để xây dựng các chương trình can thiệp xã hội, trợ giúp pháp lý và định hướng việc làm cho nhóm nông dân bị thu hồi tư liệu sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Việc thu hồi đất tại dự án cao tốc Bến Lức - Long Thành tác động thế nào đến nguồn vốn tự nhiên của hộ dân?

Diện tích đất nông nghiệp bình quân của mỗi hộ giảm 44.49%, từ mức 1.171 m² xuống còn 650 m². Tỷ lệ hộ hoàn toàn không còn đất canh tác nông nghiệp tăng mạnh từ 45% lên 59%, làm suy giảm nghiêm trọng tư liệu sản xuất truyền thống của các hộ thuần nông tại hai xã Phước Lý và Long Thượng.

Vì sao thu nhập bình quân của các hộ dân lại gia tăng sau khi bị thu hồi đất?

Thu nhập bình quân tăng từ 83 triệu lên 94 triệu đồng/năm do hai nguyên nhân chính: số lượng lao động đi làm tăng từ 1.94 lên 2.05 người/hộ (thành viên trẻ tham gia vào thị trường lao động công nghiệp) và nguồn thu bổ sung từ lãi suất tiền gửi tiết kiệm trung bình 260 triệu đồng nhận từ tiền đền bù.

Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại huyện Cần Giuộc là gì?

Điểm nghẽn nằm ở sự chênh lệch đơn giá đất giáp ranh quá lớn giữa huyện Cần Giuộc (404.000 đồng/m² đất nông nghiệp) và huyện Bình Chánh, TP.HCM (800.000 đồng/m²). Điều này khiến 99% hộ dân đánh giá giá đền bù thấp hơn thị trường và phát sinh 27 đơn khiếu nại tại địa phương.

Chính sách chi trả tiền mặt hỗ trợ chuyển đổi nghề có mang lại hiệu quả thực chất không?

Hiệu quả chuyển đổi nghề rất thấp. Dù 51% hộ dân nhận khoản tiền hỗ trợ này, chỉ có 5% chủ hộ thực sự học nghề và đổi nghề mới. Đa số người dân dùng tiền mặt để nâng cấp nhà ở kiên cố (tăng lên 86%), mua sắm thiết bị sinh hoạt hoặc gửi ngân hàng do tâm lý e ngại học nghề khi lớn tuổi.

Yếu tố nào giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phục hồi sinh kế của hộ dân trong mô hình hồi quy?

Số lao động của hộ sau khi thu hồi đất là yếu tố quan trọng nhất với hệ số hồi quy dương có ý nghĩa thống kê cao nhất (β = 34.00, p < 0.01). Năng lực tạo việc làm mới phi nông nghiệp của các thành viên gia đình là chìa khóa then chốt để ổn định sinh kế dài hạn.

Kết luận

  • Thu hồi 189.726 m² đất cho tuyến cao tốc Bến Lức – Long Thành tại Cần Giuộc đã làm biến đổi sâu sắc ngũ giác tài sản sinh kế của 226 hộ dân chịu ảnh hưởng.
  • Vốn tự nhiên bị thu hẹp đáng kể với 59% hộ không còn đất canh tác, song vốn vật chất ghi nhận bước tiến lớn khi tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 86%.
  • Vốn tài chính chuyển dịch mạnh sang tiền gửi tiết kiệm (260 triệu đồng/hộ) và thu nhập tăng 13.25%, nhưng tiềm ẩn nguy cơ thiếu bền vững khi lãi tiết kiệm suy giảm theo thời gian.
  • Mô hình hồi quy OLS khẳng định quy mô lao động sau giải tỏa và giá trị bồi thường là hai động lực quyết định tốc độ cải thiện thu nhập hộ gia đình.
  • Giai đoạn 2016 - 2020 đòi hỏi các cơ quan chức năng hoàn thiện khung giá đất giáp ranh và chuyển từ trợ cấp tiền mặt sang đào tạo nghề gắn với chuỗi cung ứng công nghiệp.

Công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo thiết thực, cung cấp góc nhìn đa chiều giúp các nhà quản lý và nhà nghiên cứu hoàn thiện chính sách an sinh xã hội trong các dự án phát triển hạ tầng quy mô quốc gia.