Chương 1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ trình bày: - Các lý thuyết cơ bản về động viên, kích thích nhân viên trong trả công lao động, các khái niệm về thỏa mãn tiền lương, thỏa mãn công việc. - Tóm tắt các nghiên cứu đã thực hiện về sự thỏa mãn tiền lương, các nghiên cứu mối tác động của thỏa mãn tiền lương đến sự thỏa mãn trong công việc tại các nước trong khu vực và thế giới. - Cuối cùng, dựa trên mô hình nghiên cứu ban đầu, từ cơ sở lý thuyết và đặc điểm đối tượng nghiên cứu phân tích, đề xuất mô hình nghiên cứu cho luận văn.1 Thuyết công bằng của John Stacey Adams (1963) - Thuyết công bằng cho rằng con người muốn được đối xử một cách công bằng.
Mọi người thường có mong muốn nhận được những phần thưởng tương xứng với những đóng góp hay công sức mà họ đã bỏ ra. Nếu một cá nhân nhận thấy bản thân được trả lương dưới mức đáng được hưởng, cá nhân sẽ giảm nỗ lực của bản thân xuống để duy trì sự công bằng hay sự cân bằng. - Tính công bằng trong công việc còn được xem xét qua tương quan giữa tỷ lệ đóng góp và những kết quả nhận được của một nhân viên với những nhân viên khác có hợp lý hay không. Sự ghi nhận công việc kịp thời từ phía nhà quản lý hoặc giám sát là nhân tố động viên hàng đầu đối với nhân viên.
- Vận dụng thuyết công bằng, Adams xây dựng hệ thống quản lý kết quả của tổ chức bao gồm tiền lương, thời gian nhàn rỗi, sự công nhận. Theo lý thuyết này thì một nhân viên không thể có được sự thỏa mãn nếu họ nhận ra rằng mình bị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đối xử không công bằng từ vấn đề lương bổng, cơ hội đào tạo thăng tiến đến sự hỗ trợ từ cấp trên… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Thuyết kỳ vọng của Victor Harold Vroom - V. Vroom cho rằng con người được thúc đẩy thực hiện công việc để đạt mục tiêu kỳ vọng trong tương lại nếu họ tin vào giá trị của mục tiêu đó và họ thấy những việc họ làm sẽ giúp họ đạt được mục tiêu. Cường độ động cơ thúc đẩy = Sự ham mê x Hy vọng - Lý thuyết này tập trung 3 khái niệm: 9 Expectancy (kỳ vọng): là niềm tin rằng nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt.
9 Instrumentality (tính chất công cụ): là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng. 9 Valence (hóa trị): là mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người thực hiện công việc. - Lý thuyết cho thấy rằng muốn người lao động có động lực hướng tới mục tiêu nào đó thì phải tạo nhận thức ở người lao động rằng nỗ lực của họ sẽ mang lại những phần thưởng như họ mong muốn. Việc trả lương công bằng, minh bạch sẽ giúp người lao động tin tưởng và phấn đấu cho những kết quả chắc chắn sẽ được ghi nhận cũng như sự tưởng thưởng xứng đáng.3 Thuyết xung đột của Edward Emmet Lawler (1971) - Lý thuyết xung đột của Lawler nghiên cứu khoảng cách một phân phối đã trệch hướng từ một lý tưởng.
Mối lo ngại gây ra bởi sự xung khắc giữa khả năng (những hiểu biết) và nhu cầu (điều cần biết) điều khiển cá nhân nỗ lực đòi hỏi (thay đổi của hành vi) tức là xung đột thu nhập của một người lao động giữa mức lương đáng có và thật sự nhận được. - Lawler đã xây dựng hệ thống lương dựa trên sự công bằng và sự mong đợi bằng việc so sánh tiền lương thực tế tới một tham chiếu khác. Lawler đã xem TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 xét, bổ sung thêm những đặc điểm công việc và cho rằng tiền lương không phải là mục tiêu.2 Các khái niệm liên quan trong luận văn 1.1 Tiền lương - Ở Pháp, sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, các khoản phụ khác được trả trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền hay hiện vật, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động [12]. - Đài Loan: Tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc; bất luận là dùng tiền lương, lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày tháng, theo sản phẩm [12].
- Nhật Bản: Tiền lương, bất luận được gọi là tiền lương, lương bổng, tiền được chia lãi hoặc những tên gọi khác là chỉ thù lao cho lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho công nhân [12]. - Tổ chức lao động quốc tế (ILO):Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp qui quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công nhân đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm [12]. - Theo quan điểm cải cách tiền lương 1993 ở Việt Nam, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh thị trường. Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 lao đồng và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc [12].
- Khái niệm tiền lương được sử dụng trong luận văn bao gồm các khoản thù lao vật chất và phi vật chất như lương căn bản, phúc lợi, thưởng, cơ hội thăng tiến, công việc thú vị… mà cá nhân nhận được cho phần lao động của mình được thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua hợp đồng lao động. - Các khái niệm tiền lương, trả công lao động, thù lao của người lao động thay đổi cho nhau, khái niệm lương cơ bản sẽ ghi rõ là lương cơ bản .2 Cơ cấu tiền lương - Cơ cấu tiền lương hiện đại theo R. Wayne Mondy và Robert M.Noe bao gồm có hai phần: phần thu nhập vật chất và phần thu nhập phi vật chất [12]. Lương cơ bản Thu nhập Phụ cấp lương vật chất Tiền thưởng CƠ CẤU Phúc lợi TIỀN LƯƠNG Thu nhập Cơ hội thăng tiến phi vật Đặc điểm công việc chất Điều kiện làm việc Hình 1-1: Cơ cấu Hình 1-1: Cơ tiền lương hiệncấu đại tiền lương hiện (R.
Wayne Mondyđạivà Robert M.Noe) Thu nhập vật chất bao gồm: 9 Tiền lương cơ bản là tiền lương được xác định trên cơ sở tính đủ các nhu cầu về sinh học, xã hội học, mức độ phức tạp, mức tiêu hao sức lao động trong điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề, công việc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 9 Phụ cấp lương là tiền trả công lao động ngoài tiền lương cơ bản, bổ sung và bù đắp thêm khi người lao động làm việc trong điều kiện không ổn định hoặc không thuận lợi mà chưa được tính đến khi xác định lương cơ bản. Tiền phụ cấp có ý nghĩa kích thích người lao động thực hiện tốt công việc trong những điều kiện khó khăn, phức tạp hơn bình thường. 9 Tiền thưởng là hình thức kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối với người lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn.
9 Phúc lợi thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến đời sống người lao động, có tác dụng kích thích nhân viên trung thành, gắn bó với doanh nghiệp. Phúc lợi của doanh nghiệp gồm có: bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, hưu trí, nghỉ phép, nghỉ lễ, ăn trưa, trợ cấp cho các nhân viên khi gặp khó khăn, tăng quà cho nhân viên nhân ngày sinh nhật, cưới hỏi, mừng thọ cha mẹ nhân viên… - Thù lao phi vật chất bao gồm: 9 Cơ hội được thăng tiến 9 Đặc điểm công việc: nhiệm vụ hứng thú, trách nhiệm, công việc đòi hỏi mức phấn đấu, có cơ hội được cấp trên nhận biết thành tích, cảm giác hoàn thành công việc. 9 Điều kiện làm việc: chính sách hợp lý, đồng nghiệp hợp tính, biểu tượng địa vị phù hợp, môi trường làm việc thoải mái, giờ làm việc uyển chuyển, chia sẻ công việc, … 1.3 Thoả mãn tiền lương - Thoả mãn tiền lương là khoảng cách giữa mức độ người lao động cảm nhận họ đáng nhận được với mức độ mà họ được chi trả trong thực tế. Sự thoả mãn tiền lương liên quan đến các yếu tố công bằng trong phân phối thu nhập của tổ chức [6].
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 - Thoả mãn tiền lương là một cấu trúc đa chiều (Heneman & Schwab 1985) gồm 5 thành phần độc lập: mức lương (pay level), quản lý lương (pay administration), cấu trúc lương (pay structure), sự tăng lương (pay raise) và phúc lợi (benefits). Việc phát triển bảng câu hỏi thoả mãn tiền lương PSQ của Heneman & Schwab là đột phá chính trong nghiên cứu thoả mãn tiền lương. Tuy nhiên kết quả phân tích mô hình 5 thành phần cho thấy thành phần cấu trúc lương và quản lý lương phân biệt không được rõ ràng và kết quả phân tích khẳng định rằng mô hình 4 thành phần cho giải pháp chính xác hơn. Do đó mô hình PSQ được điều chỉnh gồm 4 thành phần: mức lương (pay level), sự tăng lương (pay raise), phúc lợi (benefits) và pay structure/administration [21].
- Các nghiên cứu khác đề nghị số lượng các thành phần khác nhau phụ thuộc vào sự điều tiết của nhận thức (Carraher & Buckley, 1996) và sự phân công công việc của người lao động (Scarpello, Huber, & Vandenberg, 1988). Theo Williams, Carraher, Brower và McManus (1999), việc xây dựng cấu trúc thoả mãn tiền lương gồm 7 thành phần. Heneman and Judge (2000) đã đề nghị trì hoãn nghiên cứu thoả mãn tiền lương, tập trung nghiên cứu cấu trúc nhân tố và qui mô, tương quan bên trong của thang đo chung thoả mãn lương, bảng câu hỏi thoả mãn tiền lương, khám phá mối quan hệ cấu trúc với các biến khác, khuyến khích phát triển thang đo theo kết quả [22].