CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Khái niệm suy thoái kinh tế. Suy thoái kinh tế có thể hiểu đơn giản là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong khoảng thời gian nhất định.
Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm. Suy thoái kinh tế bao gồm những xu hướng: Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận. Tích tụ tư bản gắn liền xu hướng chung của mức độ tập trung tư bản.
Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể dẫn tới khủng hoảng. Tiêu thụ dưới mức. Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung. Sức ép lợi nhuận từ lao động.
Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế. Khái niệm hoạt động kinh doanh: Hiện nay có rất nhiều khái niệm hoạt động kinh doanh, nhưng theo góc độ pháp lý thì hoạt động kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng sản phẩm nhằm mục đích sinh lợi (theo khoản 2 điều 4 luật doanh nghiệp 2005). Hoạt động kinh doanh trong một số trường hợp được hiểu như hoạt động thương mại, (theo khoản 1 điều 3 luật thương mại 2005) hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác.
MỘT SỐ LÝ THUYẾT VẤN ĐỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Lý thuyết về suy thoái kinh tế. Nguyên nhân dẫn tới suy thoái kinh tế. Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh).
Ví dụ, những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn. Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây ra suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩa chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng không hiệu quả trong giai đoạn tăng trưởng hoặc lạm phát. Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn tới suy thoái kinh tế trên toàn thế giới bắt đầu từ năm 2008 và khởi nguồn từ nước Mỹ, nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu này là sự suy sụp của thị trường bất động sản.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Không chỉ riêng ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà phải vay tiền ngân hàng và trả lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do vậy, có một sự liên kết chặt chẽ tình hình lãi xuất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi xuất thấp, dễ vay mượn thì người dân đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi xuất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp. Phân loại suy thoái kinh tế.
Các nhà kinh tế học miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của đồ thị tăng trưởng theo quý. Có 4 kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến sau: Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ suy thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đổi chiều giữa hai pha này rõ ràng. Đây là kiểu suy thoái thường thấy. Ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953: Hình 1.1 : Suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953.
(Nguồn: Trang wed http://vi.org) Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm. Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái. Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng trưởng dương và tăng trưởng âm xen kẽ nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975: Hình 1.2 : suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975 (Nguồn: Trang wed http://vi.org) Suy thoái hình chữ W: Đây là kiểu suy thoái liên tiếp.
Nền kinh tế vừa thoát khỏi suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái. Ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980: Hình 1.3: Suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980 (Nguồn: Trang wed http://vi.org) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Suy thoái hình chữ L: Đây là kiểu suy thoái mà nền kinh tế rơi vào suy thoái nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái. Một số nhà kinh tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoát này là khủng hoảng kinh tế. Ví dụ như trường hợp Thập kỷ mất mát (Nhật Bản): Hình 1.4: Suy thoái kinh tế ở Thập kỷ mất mát của Nhật Bản.
(Nguồn: Trang wed http://vi. Lý thuyết về hoạt động kinh doanh. Một số chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Chỉ tiêu kết quả: Chỉ tiêu doanh thu.
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ số tiền bán sản phẩm hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi đã trừ đi các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bị trả lại, thu từ phần trợ giá của nhà nước khi thực hiện việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của nhà nước và các nguồn khác. Doanh thu thực hiện trong năm từ hoạt động bán hàng và dịch vụ được xác định băng cách nhân giá bán với số lượng hàng hóa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 n DOANH THU =∑ P iQi 1 DOANH THU: Tổng doanh thu tờ hoạt động bán hàng và cung ứng dịch vụ Pi: Giá cả một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ thứ i Qi: Khối lượng hàng hóa hay dịch vụ thứ I bán ra trong kỳ n: Loại hàng hóa hay dịch vụ Chi phí kinh doanh. Chi phí của doanh nghiệp bao gồm chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí cho hoạt động khác.
Chi phí hoạt động kinh doanh bao gồm các chi phí có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, tiền lương và các khoản chi phí có tính chất lương, các khoản trích nộp theo quy định của Nhà Nước như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền. Trong đánh giá kết quả của sự hạ thấp chi phí người ta có thể sử dụng chỉ tiêu chi phí trung bình. Chi phí này được xác định trên cơ sở tổng chi phí với số lượng hàng hóa bán ra. Thường thì số lượng hàng hóa bán ra càng nhiều thì chi phí trung bình cho một đơn vị sản phẩm càng thấp.
Chi phí lưu thông được kế hoạch hóa theo bốn chỉ tiêu cụ thể: tổng chi phí lưu thông, tỷ lệ phí lưu thông, mức giảm phí nhịp độ giảm phí Sản lượng bán và giá bán. Sản lượng và giá bán có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp. Nếu một trong hai yếu tố này giảm thì dẫn đến doanh thu giảm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 Chỉ tiêu hiệu quả Tổng lợi nhuận thu được trong kỳ Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng dư do người lao động tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nó là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, nó phản ánh đầy đủ số lượng, chất lượng, kết quả của việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động , vật tư, tài sản cố định của doanh nghiệp. Lợi nhuận là đòn bẩy quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và các đơn vị tạo ra sự phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống của cán bộ nhân viên. LỢI NHUẬN (π) = DOANH THU – CHI PHÍ π: Lợi nhuận thực hiện trong kỳ. DOANH THU: Doanh thu của doanh nghiệp.
CHI PHÍ: Chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu. Chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là chỉ tiêu cho biết trong 100 đồng doanh thu thu về, có bao biêu đồng lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra. Tỷ suất này càng lớn chứng tỏ lãi mà doanh nghiệp thu về cao, hoạt động kinh doanh của công ty có lãi.