Chương 1. Giới thiệu đề tài Trong chương này luận văn sẽ thực hiện đề cập lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, cũng như xác định phạm và đối tượng nghiên cứu và đưa ra mô hình nghiên cứu giải thích hành vi quản trị lợi nhuận mà luận văn áp dụng. Cơ sở lý thuyết vả bằng chứng thực nghiệm (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 6 Luận văn trình bày khái niệm về quản trị lợi nhuận và các đo lường hành vi quản trị lợi nhuận. Đồng thời, lý thuyết đại diện và bất cân xứng thông tin được luận văn đề cập khi giải thích hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý.
Cuối cùng, luận văn tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý cũng như các yếu tố quyết định hành vi quản trị lợi nhuận. Mô hình nghiên cứu và phương pháp hồi quy Trong chương 03, luận văn thể hiện dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, đo lường và các kỳ vọng về dấu của các biến cũng như trình bày phương pháp ước lượng mà luận văn sẽ sử dụng để ước lượng mô hình nghiên cứu và các kiểm định cần thiết. Kết quả nghiên cứu Chương này thể hiện thống kê mô tả và ma trận tương quan để người đọc khái quát về dữ liệu nghiên cứu của luận văn. Đồng thời luận văn trình bày các kết quả kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi.
Cuối cùng, kết quả hồi quy được luận văn thể hiện và thảo luận các kết quả đạt được. Kết luận Cuối cùng, luận văn kết luận các phát hiện đạt được từ đó đưa ra một số khuyến nghị dành cho các nhà quản lý cũng như các nhà hoạch định chính sách. Sau đó, luận văn đề cập đến các hạn chế mà đề tài vướng phải và hướng nghiên cứu tiếp theo.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.1 Hành vi quản trị lợi nhuận 2.1 Khái niệm quản trị lợi nhuận Kế toán thường được sử dụng như là công cụ để các công ty có thể truyền đạt các thông tin nội bộ quan trọng của công ty đến các bên ngoài có liên quan với công ty (chẳng hạn như các ngân hàng, các nhà đầu tư bên ngoài…), những người mà dựa vào các thông tin này để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty và từ đó đưa ra các quyết định sáng suốt. Theo đó các thông tin kế toán có thể được báo cáo cho các nhà quản lý theo cách tốt nhất và hiệu quả nhất với mục đích phản ánh hiệu quả hoạt động và giá trị của công ty nhưng phải tuân thủ các yêu cầu của các chuẩn mực kế toán.
Tuy nhiên không phải lúc nào các báo cáo này cũng có thể được sử dụng để phản ánh chính xác giá trị công ty, mà các báo cáo này có thể được sử dụng với mục đích cơ hội của các nhà quản lý công ty và do đó sẽ làm gia tăng khả năng thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý của các công ty đối với các báo cáo tài chính của công ty. Bên cạnh đó, Canning (1929) đã cho rằng những gì được đặt ra trong bất kỳ cách đo lường nào của thu nhập ròng không bao giờ có thể được xem là mức thu nhập thực tế của công ty trong bất kỳ trường hợp nào. Tương tự như vậy, Ball và Brown (1968) cho rằng thu nhập chỉ được xác định như là kết quả của việc áp dụng một tập hợp các phương pháp cho một vấn đề mà không có ý nghĩa rõ ràng nào khác. Ở một mức độ nào đó, quản trị lợi nhuận cũng có thể được xem như là một sản phẩm của các chiến lược của công ty dùng để giải quyết vấn đề đại diện giữa các bên liên quan và các nhà quản lý của công ty (Jensen và Meckling, 1976).
Chẳng hạn như các cổ đông muốn các nhà quản lý công ty tối đa hóa giá cổ phiếu và theo một cách nào đó thì điều này có tương quan dương với thu nhập của công ty. Do đó, các cổ đông sẽ thiết kế hệ thống đo lường hiệu quả hoạt đồng và các hợp đồng bồi thường có liên quan đến các nhà quản lý công ty để đảm bảo rằng thu nhập (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 8 công ty luôn gia tăng để tối đa hóa giá cổ phiếu hay giá trị công ty. Cho nên trong trường hợp này các nhà quản lý có khả năng thực hiện các hành vi quản trị lợi nhuận. Khi đó vấn đề đại diện xảy ra giữa các người đại diện (nhà quản lý) và các người sở hữu (các cổ đông) sẽ có khuynh hướng suy giảm.
Mặc dù các hợp đồng ràng buộc như vậy là cần thiết để giảm thiểu chi phí đại diện và có thể đo lường hiệu suất làm việc của các nhà quản lý, nhưng các hợp đồng này có thể gián tiếp khuyến khích các nhà quản lý công ty cố tình thao túng thu nhập của công ty để đáp ứng mục tiêu thu nhập nhất định hoặc có thể gây ra các lệch lạc cho các bên liên quan (Dye, 1988; Burgstahler và Dichev, 1997; Healy và Wahlen, 1999; Trueman và Titman, 1998). Mặt khác, Schipper và các cộng sự (1980) đã định nghĩa quản trị lợi nhuận như là một sự can thiệp có mục đích trong quá trình hoàn thành báo cáo tài chính cho các đối tượng bên ngoài nhằm mục đích đạt được một số lợi ích cá nhân. Theo cách định nghĩa này, quản trị lợi nhuận có thể xảy ra trong bất kỳ phần nào của quá trình tiết lộ thông tin ra bên ngoài và có thể thể hiện ở một số dạng khác nhau. Một phần mở rộng nhỏ của định nghĩa này là bao gồm quản trị lợi nhuận “thực” được thực hiện bằng cách điều chỉnh quyết định đầu tư và quyết định tài trợ để thay đổi báo cáo tài chính hoặc một số báo cáo phụ có liên quan.
Tương tự như vậy, Healy và Wahlen (1999) đã khám pháquản trị lợi nhuận bằng việc cho rằng quản trị lợi nhuận xảy ra khi người quản lý sử dụng các phán quyết (judgment) trong quá trình lập báo cáo tài chính và cơ cấu các giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính nhằm mục đích đánh lừa các đối tượng bên ngoài có liên quan với công ty ở góc độ hiệu quả hoạt động của công ty. Nhìn chung, từ các định nghĩa đã đề cập, có thể thấy rằng quản trị lợi nhuận có liên quan đến việc thực thi kế toán theo các tiêu chuẩn và quy tắc kế toán và về bản chất thì quản trị lợi nhuận có thể lệch khỏi ý nghĩa của các quy tắc này. Các định nghĩa này đã nêu bật lên một số động cơ quan trọng để người quản lý tiến hành (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 9 quản trị lợi nhuận, bao gồm cả quản trị lợi nhuận dựa trên phương pháp kế toán dồn tích và thu nhập thực, chẳng hạn như khuyến khích các nhà quản lý thực hiện để đạt được các lợi ích cá nhân, lừa gạt các bên liên quan.2 Phương pháp đo lường hành vi quản trị lợi nhuận Hành vi quản trị lợi nhuận được nghiên cứu đo lường qua các phương pháp đo lường của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995), Kothari và các cộng sự (2005) và Roychowdhury (2006). Hành vi quản trị lợi nhuận được nghiên cứu đo lường qua các phương pháp đo lường của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995), Kothari và các cộng sự (2005) và Roychowdhury (2006).
Phương pháp đo lường củaJones (1991) Bước 1: Xác định hệ số hồi quy của biến dồn tích bình thường bằng cách sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính sau Trong đó: TA: Tổng dồn tích (total accruals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh REV: Doanh số thuần (revenues) PPE: Nguyên giá của tài sản cố định hữu hình (Property, plant and equipment) Bước 2: Xác định biến dồn tích bình thường (Không thể điều chỉnh) bằng cách sử dụng các hệ số hồi quy từ phương trình trên, thế vào công thức: (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 10 NDA: Dồn tích bình thường (Non-discretionary – Biến dồn tích không thể điều chỉnh) Bước 3: Xác định hành vi quản trị lợi nhuận Phương pháp đo lường củaDechow và các cộng sự (1995) Dựa trên mô hình của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995) cải tiến mô hình Jones (1991) như sau: Trong đó, là sự thay đổi trong tài khoản nợ phải thu. Sau khi xác định biến dồn tích bình thường NDA, hành vi quản trị lợi nhuận được xác định như sau: Phương pháp đo lường củaKothari và các cộng sự (2005) Các tài liệu trước đây tìm ra khuyến điểm của các mô hình dồn tích có điều chỉnh (discretionary accrual models) khi được sử dụng với các doanh nghiệ có kết quả hoạt động kinh doanh tương đối tốt. Cho nên, các nghiên cứu sau này đã đưa ra mô hình mới đo lường mức độ dồn tích có điều chỉnh có liên kết với hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty (performance-matched discretionary accrual measure). Dựa vào mô hình Jones (1991) và mô hình Dechow và các cộng sự (1995), Kothari và các cộng sự (2005) đã phát triển mô hình sau: (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 11 Trong đó, là tỷ lệlợi nhuận sau thuế so với giá trị sổ sách của tổng tài sản ở năm t-1.
Sau khi xác định biến dồn tích bình thường NDA, hành vi quản trị lợi nhuận được xác định như sau: Phương pháp đo lường củaRoychowdhury (2006) - Mô hình dòng tiền bất thường: RM_CFO - Mô hình chi phí sản xuất bất thường: RM_PROD - Mô hình chi phí hữu ích bất thường: RM_DISEXP Trong đó: thể hiện dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công tyI tại thời điểm t là giá trị sổ sách của tổng tài sản của công ty i trong năm t-1 là doanh sốthuần của công tyi trong năm t là doanh sốthuần của công tyI trong năm t trừ đi doanh sốthuần trong năm t-1 là doanh sốthuần của công tyI trong năm t – 1 là tổng giá vốn hàng bán của công ty i trong năm t (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 12 là tổngchi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất chung và chi phí bán hàng của công ty i trong năm t.