ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, đất nƣớc ta tăng cƣờng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc với nhịp độ cao đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa, nhằm đƣa đất nƣớc ta cơ bản thành nƣớc công nghiệp, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều nhà máy xí nghiệp, cơ sở sản xuất vẫn tiếp tục phát triển trong cơ chế thị trƣờng, bên cạnh đó vẫn tồn tại những mặt tiêu cực, đó là tình trạng ô nhiễm môi trƣờng với tốc độ và chiều sâu tƣơng ứng với sự phát triển. Hiện nay, mối đe dọa cho sức khỏe con ngƣời đó là sự ô nhiễm môi trƣờng bởi hoạt động công nghiệp, giao thông, điều kiện sinh hoạt vật chất hạn hẹp, cơ sở hạ tầng yếu kém…Môi trƣờng bị đe dọa chủ yếu do hoạt động sống của con ngƣời. Trong đó hoạt động sản xuất xi măng là một trong những loại hình gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Nguồn ô nhiễm chủ yếu là khói thải và bụi xi măng, gây ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng và sức khỏe ngƣời dân dù cho xi măng là một trong những mặt hàng vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy vấn đề đặt ra ngay lúc này là làm sao để đánh giá đƣợc mức độ ô nhiễm từ mỗi nhà máy của loại hình sản xuất này, từ đó đề ra đƣợc biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm. Công ty cổ phần 77 thuộc xã Liên Sơn – Kim Bảng – Hà Nam đƣợc xây dựng từ năm 1977 với quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, đóng góp nhiều cho sự phát triển đất nƣớc nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng. Mặc dù vậy hoạt động sản xuất xi măng của Công ty có ảnh hƣởng đến môi trƣờng.
Chính vì vậy để hiểu rõ hơn về vấn đề tác động đến môi trƣờng của công ty sản xuất xi măng này, nhằm đề xuất biện pháp giảm thiểu tác hại đến môi trƣờng trong khu vực em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của hoạt động sản xuất xi măng đến môi trƣờng tại Công ty cổ phần 77, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.” 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình tiêu thụ xi măng 1. Trên thế giới Xã hội không ngừng phát triển, nhu cầu con ngƣời không ngừng tăng lên. Sự phát triển của các ngành công nghiệp, sản xuất để đáp ứng nhu cầu đó.
Hiện nay ngành sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó sản xuất xi măng chiếm tỷ trọng lớn trên thế giới. Xi măng luôn là loại vật liệu xây dựng cơ bản và thông dụng nhất đƣợc sử dụng rộng rãi trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, giáo dục, quốc phòng. Ƣớc tính đến năm 2020 nhu cầu về xi măng trên toàn thế giới sẽ đạt 3,06 tỷ tấn, riêng nhu cầu của các nƣớc đang phát triển chiếm 84%. Tất cả các ngành nghề kinh tế đều cần tới xi măng và sự phát triển của ngành công nghiệp xi măng kéo theo nhiều ngành nghề sản xuất dịch vụ khác phát triển nhƣ xây lắp, sản xuất thiết bị phụ tùng, bê tông, bao bì và các dịch vụ tƣ vấn khảo sát thiết kế, thăm dò chất lƣợng và trữ lƣợng.
Bên cạnh đó ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trƣởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nền kinh tế thế giới trong những năm qua (2000 – 2007) bƣớc vào giai đoạn phát triển ổn định và có thiên hƣớng chú ý vào nền kinh tế Châu Á. Tiêu dùng xi măng trong những năm trở lại đây không ngừng tăng trƣởng và là động lực quan trọng thúc đẩy ngành công nghiệp xi măng phát triển tại một số nƣớc đang phát triển nhƣ: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia. Theo dự báo nhu cầu sử dụng xi măng trên thế giới từ nay đến năm 2020: tăng hàng năm 3,6% năm nhu cầu sử dụng xi măng có sự chênh lệch lớn giữa 2 các khu vực trên thế giới: nhu cầu các nƣớc đang phát triển 4,3% năm, riêng châu Á bình quân 5%/năm, các nƣớc phát triển xấp xỉ 1%/năm.
Ngoài ra tình trạng dƣ thừa công suất của các nhà máy là phổ biến ở Đông Âu, Đông Nam Á (Thái Lan, ngƣợc lại ở Bắc Mỹ).[22] Tình hình sản xuất và tiêu thụ xi măng của một số quốc gia Bảng 1.1: Lƣợng xi măng tiêu thụ của các quốc gia STT Quốc gia Lƣợng tiêu thụ xi măng (triệu tấn) 2006 2008 2010 2012 2014 1 Trung Quốc 1200,0 1372,0 1850,0 2171,0 2462,0 2 Ấn Độ 152,1 174,0 221,0 241,8 264,1 3 Hoa Kì 122,0 93,5 71,2 77,9 89,1 4 Braxil 40,7 51,6 60,0 69,3 71,8 5 Nga 52,0 60,8 49,4 65,2 71,1 6 Thổ Nhĩ Kì 41,7 42,6 50,0 56,7 67,2 7 Indonesia 32,1 38,1 40,8 55,0 59,9 8 Ả-rập Xê-út 24,7 29,9 41,3 52,7 56,6 9 Iran 35,6 44,5 54,8 57,6 53,7 10 Ai Cập 30,0 38,4 49,5 49,2 50,0 11 Nhật Bản 58,6 51,0 41,8 44,3 48,0 12 Việt Nam 31,7 40,2 50,2 45,2 47,5 13 Hàn Quốc 48,4 53.5 43,9 44,0 14 Mexico 35,9 35,1 33,9 36,5 36,7 15 Thái Lan 26,6 25,8 24,5 26,8 30,1 16 Pakistan 16,9 21,1 22,6 24,8 27,2 17 Đức 28,9 27,6 24,7 26,8 27,1 18 Algeria 15,2 17,5 19,0 21,3 26,8 19 Philippines 11,7 13,2 15,5 18,4 21,3 20 Malayxia 15,7 17 16,6 19,2 21,0 (Nguồn: Hội vật liệu xây dựng, 2015) Hiện nay, công nghệ sản xuất xi măng là một trong những ngành gây ô nhiễm không khí lớn nhất. Vì vậy, sản xuất xi măng luôn đòi hỏi phải gắn liền 3 với công tác xử lý ô nhiễm môi trƣờng tốt. Ở những nƣớc đang phát triển sử dụng dây chuyền sản xuất theo công nghệ cũ thì thƣờng gây ra ô nhiễm môi trƣờng. Công nghệ xử lý chủ yếu là lọc bụi túi vải.
Bởi vậy ô nhiễm bụi xi măng ở những nƣớc này là mối quan tâm lớn. Tại Việt Nam Nƣớc ta với diện tích chủ yếu là đồi núi, đây là nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành sản xuất xi măng. Và đây là một trong những ngành công nghiệp đƣợc hình thành sớm nhất ở nƣớc ta (cùng với các ngành than, dệt, đƣờng sắt). Ngày 25/12/1889 khởi công xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên của ngành Xi măng Việt Nam tại Hải Phòng.
Từ năm 1991 đến nay là giai đoạn phát triển mạnh nhất của ngành xi măng Việt Nam. Sau 19 năm, tổng công suất thiết kế đã gấp 13 lần và Việt Nam trở thành nƣớc đứng đầu khối ASEAN về sản lƣợng xi măng. Năm 2012, tổng công suất thiết kế các nhà máy xi măng đạt 68,5 triệu tấn, năng lực sản xuất 63 triệu tấn, về cơ bản cung đã vƣợt cầu.[19] Đến nay đã có khoảng 80 Công ty, đơn vị tham gia trực tiếp sản xuất và phục vụ sản xuất xi măng trong cả nƣớc, trong đó: khoảng 33 thành viên thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam, 5 công ty liên doanh, và hơn 40 công ty nhỏ và các trạm nghiền khác. Các hộ dân sống xung quanh khu vực chịu ảnh hƣởng rất nhiều từ khói bụi thải của nhà máy, môi trƣờng sống bị ô nhiễm quá nặng.
Hiện nay có 46 doanh nghiệp tham gia sản xuất và kinh doanh trong ngành xi măng, với tổng công suất lên đến 68,5 triệu tấn/năm, trong đó gồm có: 68 dây chuyền lò quay với tổng công suất thiết kế 67,32 triệu tấn/năm và 13 dây chuyền xi măng lò đứng với tổng công suất thiết kế 1,18 triệu tấn/năm. Trong khi đó nhu cầu tiêu thụ trong nƣớc liên tục bị sụt giảm. Năm 2012 toàn ngành công nghiệp xi măng tiêu thụ 53,61 triệu tấn xi măng và clinker. Trong đó xi măng tiêu thụ nội địa đạt 45,5 triệu tấn giảm 8% so với năm 2011, xuất khẩu đạt 8,1triệu tấn clinker và xi măng (trong đó xi măng đạt 1,6 triệu tấn).
Nhƣ vậy cung đã vƣợt cầu khá nhiều. Về cơ cấu tiêu thụ sản phẩm theo vùng miền thì thị 4 trƣờng miền Bắc chiếm tỷ trọng lớn nhất 41 – 46%, miền Nam 31 – 33%, miền Trung chiếm tỷ lệ thấp nhất 21 – 25%. Bên cạnh đó, do tính chất ngành xây dựng có tính mùa vụ nên tiêu thụ xi măng trong quý 2 và quý 4 là cao nhất (sau tết và mùa khô ở miền Nam). Vì vậy ảnh hƣởng rất lớn đến lƣợng hàng tồn kho và doanh thu của công ty xi măng.
Ngành xi măng trong những năm gần đây đang trong giai đoạn rất khó khăn, cung vƣợt cầu vì vậy mức độ cạnh tranh trong ngành khá khốc liệt trong khi thị trƣờng bất động sản lại đóng băng, nhiều dự án phải dừng hoạt động nên nhu cầu tiêu thụ xi măng càng sụt giảm. Các nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng, giá nguyên liệu đầu vào lại cao, chi phí lãi vay lớn do đầu tƣ xây dựng nhà máy xi măng khá tốn kém, nhiều doanh nghiệp đứng bên bờ vực phá sản nhƣ XM Đồng Bành, XM Hạ Long, XM Quang Sơn…[20] Hiện nay các nhà máy xi măng phân bố không đều giữa các khu vực. Hầu hết các nhà máy tập trung nhiều tại miền Bắc nơi có vùng nguyên liệu đầu vào lớn, trong khi đó các nhà máy lớn phía Nam rất hạn chế. Do đó nguồn cung xi măng ở phía Bắc thì dƣ thừa trong khi miền Nam lại thiếu hụt.2: Số lƣợng lò quay phân bố theo vùng miền Vùng miền Số Công suất lò nung (tấn clinker/ngày) lƣợng Cỡ lớn (≥ TB (2.000) Miền Bắc 54 11 08 35 Miền Trung 21 12 03 06 Miền Nam 05 03 02 00 Toàn quốc 80 26 13 41 (Báo cáo ngành xi măng, 2016) Số nhà máy xi măng trên toàn Việt Nam đƣợc chia thành 3 nhóm chính: nhóm trực thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, các đơn vị liên doanh với nƣớc ngoài và các nhà máy xi măng đƣợc những tập đoàn và công ty 5 tƣ nhân tự đầu tƣ xây dựng.
Tổng cộng trên cả nƣớc có gần 100 nhà máy sản xuất xi măng. Tổng công suất thiết kế của các nhà máy xi măng Việt Nam là 68,5triệu tấn. Trong đó 11 công ty xi măng lớn chiếm hơn 50%, Hà Tiên 1 có công suất thiết kế lớn nhất với 7,3triệu tấn/năm.3: Các nhà máy xi măng lớn của Việt Nam (tính đến năm 2013) STT Nhà máy xi măng Địa điểm Công suất hiện tại (ngàn tấn) 1 Hoàng Thạch Hải Dƣơng 4,000 2 Nghi Sơn Thanh Hóa 4,300 3 Bỉm Sơn Thanh Hóa 4,000 4 Chinfon Hải Phòng 4,500 5 Bút Sơn Hà Nam 3,000 6 Hoàng Mai Nghệ An 1,400 7 Tam Điệp Ninh Bình 1,400 8 Hải Phòng Hải Phòng 1,400 9 Phúc Sơn Hải Dƣơng 4,000 10 Holcim Kiên Giang 3,600 11 Hà Tiên 1 Tp.