Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu - Chương 2: Tổng quan ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên nguy cơ phá sản tại ngân hàng thương mai - Chương 3: Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên lên nguy cơ phá sản tại ngân hàng thương mại Việt Nam 123doc 6 - Chương 4: Giải pháp hạn chế nguy cơ phá sản tại cac ngân hàng thương mai Việt Nam thông qua kiểm soát ảnh hưởng của rủi ro tín dụng.6 Ý nghĩa của nghiên cứu • Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài không đưa ra một khung lý thuyết mới mà chỉ dừng lại ở việc hệ thống hóa lại một cách đầy đủ và chi tiết về vấn đề rủi ro tín dụng, nguy cơ phá sản hay kiệt quệ tài chính cũng như các yếu tố tác động đến nguy cơ phá sản tại các ngân hàng thương mại, để từ đó xây dựng khung lý thuyết chặt chẽ cho việc tìm ra mối tương quan giữa rủi ro tín dụng và nguy cơ phá sản tại các ngân hàng thương mại. • Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cho thấy được các bằng chứng thực nghiệm cụ thể về ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên nguy cơ phá sản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đó cũng là cơ sở để giúp nhà quản trị ngân hàng điều chỉnh các phương án quản lý rủi ro tín dụng nhằm tránh các tổn hại dẫn tới tình trạng phá sản. Nghiên cứu này giúp các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương hợp lý hóa quy trình quản lý rủi ro.
Các nhà đầu tư sẽ được ở một vị trí để xác định nơi họ sẽ đặt đầu tư vốn cổ phần của họ, nghiên cứu sẽ cho thấy các ngân hàng thực hiện tốt nhất về rủi ro tín dụng và nguy cơ phá sản tại từng ngân hàng. 123doc 7 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG LÊN NGUY CƠ PHÁ SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm tín dụng Định nghĩa của tín dụng đã được xác định bởi nhiều nhà kinh tế học và các chuyên gia tài chính. Theo Farlex Financial Dictionary (2012), tín dụng là một thỏa thuận giữa người mua và người bán mà người mua nhận được hàng hóa hay dịch vụ trước và thanh toán sau, thường theo thời gian và thường là với lãi suất. Cụ thể, trong tài chính, tín dụng là một hợp đồng pháp lý khi một bên nhận được tài sản hoặc của cải từ một bên khác và hứa hẹn sẽ trả lại vào một ngày trong tương lai cùng với lãi.
Trong thuật ngữ đơn giản, một tín dụng là một thỏa thuận hoãn thanh toán hàng đã mua hoặc vay. Với việc phát hành một tín dụng, nợ được hình thành. Tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi. Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng như quan hệ tín dụng khác, chứng đựng các nội dung: - Chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng. - Hoàn trả theo thời hạn cụ thể. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí 123doc 8 2.2 Khái niệm rủi ro tín dụng Trong lĩnh vực tài chính rủi ro được định nghĩa là sự không chắc chắn của việc trả nợ và tiềm năng mất mát tài chính là một kết quả. Nhiều tổ chức và nhà kinh tế học đã đưa ra khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng.
Theo Basel (2000), rủi ro tín dụng được định nghĩa là tiềm năng mà một khách hàng vay ngân hàng hoặc bên truy cập sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản thỏa thuận. Theo Sauders và lange (2002), “rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thự hiện cả về số lượng và thời hạn”. Theo Henie và Sonja (1999), “rủi ro tín dụng được xem là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hay hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ.
điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”.Fitch (1997) cho rằng: “Rủi ro tín dụng là lọai rủi ro xảy ra khi người vay không thanh tóan được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu của hoạt động cho vay của ngân hàng”. Như vậy, rủi ro tín dụng là nguy cơ không thu hồi được nợ cho vay - rủi ro tổn thất phát sinh từ một con nợ không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của mình trong đầy đủ khi đến hạn theo hợp đồng, bao gồm thanh toán vốn gốc và lãi phát sinh. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và tiềm năng gây ra những tổn thất lớn mà sẽ đe dọa hoạt động cốt lõi của một ngân hàng, trong trường hợp nghiêm trọng có thể đẩy chủ nợ đến bờ vực phá sản.3 Phân loại rủi ro tín dụng Có rất nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng dựa vào các tiêu chí và mục đích khác nhau.căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được phân thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro tín dụng Rủi ro giao Rủi ro dịch danh mục Rủi ro lựa Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Hình 2.1 Các loại rủi ro tín dụng Nguồn: Quản trị ngân hàng thương mại-Nguyễn Văn Tiến (2001) 2.1 Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng trong từng giao dịch riêng lẻ. Rủi ro giao dịch có 3 thành phần chính. - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm, rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.2 Rủi ro danh mục Rủi ro danh mục là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.4 Nguyên nhân dẫn tối rủi ro tín dụng 2.1 Nguyên nhân khách quan Các tác nhân bên ngoài là một nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến họat động cấp tín dụng và thu hồi nợ của ngân hàng.
Tác nhân bên ngoài cũng là yếu tố làm cho công việc của chủ thể đi vai không thuận lợi, dẫn tới gặp khó khăn trong việc trả nợ. • Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường trong nước cũng như thế giới như thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu gây ra khó khăn cho hoạt động kinh doanh, sản suất, lao động của chủ thể đi vay. • Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh là những rủi ro mà cả khách hàng lẫn ngân hàng đều không lường trước đối với khoản tín dụng của mình, khách hàng gặp khó khăn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng. • Môi trường pháp lý chưa thuận lợi, sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương gây ra rủi ro trong kinh doanh của chủ thể đi vay và gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ.
• Hệ thống thông tin hỗ trợ tín dụng của các ngân hàng thương mại còn bất cập. 123doc 11 • Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên do phải mạo hiểm vấp tín dụng cho khách hàng có mức độ tín nhiệm thấp.2 Nguyên nhân chủ quan Từ ngƣời vay • Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa hay nhiều thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây chuyền. • Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý, không đủ khả năng ứng phó trước những biến động thị trường dẫn đến họat động kinh doanh không đạt hiệu quả.