CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về vốn lưu động, quản trị vốn lưu động và hiệu quả tài chính doanh nghiệp 1. Vốn lưu động Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp. Theo Maness và Zietlow (2005), vốn lưu động (working capital) là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Tương tự, Brigham và Houston (2007) định nghĩa, vốn lưu động hay tổng vốn luân chuyển (Gross working capital) là tổng tài sản ngắn hạn của DN, bao gồm: tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, các tài sản ngắn hạn khác (chi phí trả trước ngắn hạn) sử dụng để tài trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày của DN. Theo Phan Đình Nguyên (2013), biểu hiện dưới hình thái vật chất của vốn lưu động là tài sản lưu động. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên lưu động trong quá trình kinh doanh. Vốn lưu động là một công cụ trong quá trình quản trị công ty để tạo ra khả năng sinh lợi và sự tăng trưởng.
Sự thiếu hụt vốn lưu động có thể dẫn đến những khó khăn trong hoạt động hàng ngày của công ty (Horne & Achowicz, 2000). Theo Ngô Vi Trọng và Lê Thị Minh Nguyên (2015), vốn lưu động được tính là những khoản tiền cần thiết để thanh toán cho các hoạt động kinh doanh. Như vậy, suy rộng ra, vốn lưu động được hiểu là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của DN được chuyển hóa qua tất cả các dạng - tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về trạng thái ban đầu là tiền mặt (Richards và Laughlin, 1980). Tóm lại, Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên và liên tục.
Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và 11 từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kì kinh doanh.1 : Chu kỳ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp (Nguồn: Parrino, 2011) Chu kỳ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp liên quan đến các chỉ tiêu về tài sản lưu động của doanh nghiệp, cụ thể gồm : chu kỳ luân chuyển tiền mặt, kỳ thu tiền bình quân, số ngày tồn kho bình quân và kỳ trả tiền bình quân. Ở góc độ này, các hoạt động của vốn lưu động chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính. Nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho vốn lưu động là yếu tố thúc đẩy sự chuyển hoá nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài sản lưu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ. Việc duy trì một sự cân bằng tối ưu giữa các thành phần của vốn lưu động (tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả) là mục tiêu chính của quản trị vốn lưu động.
Quản trị vốn lưu động Quản trị vốn lưu động là một phần quan trọng trong quản trị tài chính của một doanh nghiệp. Quản trị vốn lưu động tập trung chủ yếu vào các nguồn tài chính ngắn hạn 12 và quyết định đầu tư ngắn hạn của các doanh nghiệp. Quản trị vốn lưu động là rất quan trọng cho một doanh nghiệp, đặc biệt là cho các doanh nghiệp sản xuất, thương mại và phân phối, bởi vì trong các doanh nghiệp này quản trị vốn lưu động trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận và tính thanh khoản.Sharma và Satish Kumar (2011): “Quản lý vốn lưu động là một phần quan trọng trong các quyết định quản lý tài chính ở tất cả các công ty. Khả năng hoạt động của công ty phụ thuộc vào sự đánh đổi giữa việc đầu tư vào tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn (vốn lưu động)”.
Như vậy quản trị vốn lưu động liên quan đến việc hoạch định và kiểm soát các khoản mục tài sản lưu động và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể theo đuổi các chính sách quản trị vốn lưu động khác nhau và do đó đạt được mức sinh lợi cũng như đối mặt với rủi ro khác nhau, các nhà quản lý cần xem xét sự đánh đổi giữa lợi nhuận với rủi ro dự kiến truớc khi quyết định một mức vốn lưu động tối ưu. Quản trị vốn lưu động có mục tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các DN duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi ro do mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn. Vì vậy, hiệu quả của quản trị vốn lưu động phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của DN (Filbeck, Krueger và Preece, 2007).
Nếu đầu tư quá nhiều vào vốn lưu động, làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi DN dùng nguồn vốn từ bên ngoài (như đi vay) để tài trợ cho vốn lưu động. Do đó, có thể thấy, sự thiếu hụt vốn lưu động có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của DN. Thế nên, quyết định đầu tư bao nhiêu vào các khoản: phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tín dụng thương mại từ nhà cung cấp được phản ánh trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt - biểu thị cho số ngày trung bình từ khi DN thanh toán cho nhà cung cấp đến khi DN thu hết tiền nợ của khách hàng. Hiệu quả tài chính doanh nghiệp Khái niệm hiệu quả được nhắc đến trong nghiên cứu của Josette Peyrard, 2005: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định”.
Như vậy bản chất của hiệu quả tài chính là kết quả của lao động sản xuất, được xác định trong mối quan hệ so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Do vậy thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả dựa trên các nguồn lực sẵn có. Theo góc độ chuyên môn, hiệu quả theo nghĩa kinh tế là: “Mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ”, có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kĩ thuật hoặc theo chi phí thì được gọi là hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất.
Hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Xuất phát từ khái niệm của tài chính doanh nghiệp thì hiệu quả tài chính doanh nghiệp có thể được hiểu là hiệu quả gắn liền đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu của mình, tác giả chỉ phân tích hiệu quả tài chính ở khía cạnh hiệu quả của việc sử dụng vốn của doanh nghiệp để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thông qua việc đánh giá một số chỉ tiêu chỉ tiêu tài chính có liên quan.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình hay vô hình của doanh nghiệp được đầu tư vào kinh doanh để sinh lời. Vì vậy, hiệu quả của việc sử dụng vốn cũng là hiệu quả của việc sử dụng tài sản. Tổng quan các lý thuyết liên quan đến quản trị vốn lưu động và hiệu quả tài chính doanh nghiệp 1. Nội dung quản trị vốn lưu động Công tác quản trị vốn lưu động đóng vai trò then chốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp.
Trong đó, chính sách đầu tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động được xem như là các định hướng ban đầu cho việc thực hiện quản trị vốn lưu động. Chính sách đầu tư tài sản lưu động là các chỉ dẫn cho việc đưa ra các quyết định về mức độ đầu tư vào tài sản lưu động và có tính lặp lại ở mỗi chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp. Chính sách đầu tư được đo lường bằng tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản. Mức đầu tư vào tài sản ngắn hạn cao, doanh nghiệp có thể xoay vòng vốn nhanh phục vụ kịp thời cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, tăng khả năng sinh lợi.
Vì vậy, tỷ lệ này cao được cho là chính sách đầu tư thận trọng đồng thời tỷ lệ này thấp được cho là chính sách đầu tư mạo hiểm. Chính sách tài trợ vốn lưu động là các chỉ dẫn cho việc đưa ra các quyết định về mức độ tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn cho tài sản lưu động và có tính lặp lại ở mỗi chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp. Chính sách tài trợ được đo lường bằng tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản. Mức nợ ngắn hạn cao dẫn đến doanh nghiệp bị áp lực về thời hạn thanh toán.
Vì vậy, tỷ lệ này cao được cho là chính sách tài trợ vốn lưu động mạo hiểm đồng thời tỷ lệ này thấp được cho là chính sách tài trợ thận trọng. Nội dung quản trị vốn lưu động bao gồm việc quản trị các khoản phải thu, quản trị hàng tồn kho, quản trị các khoản phải trả và quản trị tiền mặt. Cụ thể: Quản trị khoản phải thu Khoản phải thu trong doanh nghiệp có nhiều loại, đó là khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước cho người bán, khoản phải thu nội bộ, khoản phải thu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, khoản phải thu khác. Trong đó, khoản phải thu khách hàng mua thường chiếm tỷ lệ lớn nhất.
Khoản phải thu trong doanh nghiệp tồn tại là khách quan nhưng mức phải thu cao hay thấp cũng phụ thuộc vào nhân tố chủ 15 quan là cách quản lý của doanh nghiệp. Quản trị khoản phải thu trong doanh nghiệp là việc kiểm soát khoảng thời gian từ thời điểm bán hàng cho đến khi nhận lại khoản thanh toán, hay còn gọi là kỳ thu tiền bình quân (AR).