Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về tác động của vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài đến sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kiểm định tác động của vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài đến sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
Chương 5: Kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN CHỦ SỞ HỮU ĐƯỢC NẮM GIỮ BỞI CỔ ĐÔNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ BIẾN ĐỘNG TỶ SUẤT SINH LỢI CHỨNG KHOÁN 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả Như chúng ta được biết, thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ phát triển kinh tế.
Dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả của Fama (1970), một thị trường chứng khoán được coi là hiệu quả khi đó giá cả phản ánh toàn bộ những thông tin tồn tại trên thị trường khi đó thị trường xử lý thông tin một cách triệt để do đó không tồn tại bất cứ một thông tin có liên quan nào đến chứng khoán bị thị trường bỏ qua. Vì vậy, giá cả chứng khoán vốn trên thị trường luôn ở mức phù hợp với mức giá trị nội tại của nó. Chính vì lẽ đó, lý thuyết thị trường hiệu quả có ý nghĩa thực tiễn với ngành tài chính nói chung và là nền tảng cho các nhà nghiên cứu về sự biến động trong tỷ suất sinh lợi của chứng khoán nói riêng. Các dạng thị trường hiệu quả Fama đã phân loại thông tin được phản ánh thành ba tập hợp và tương ứng là ba cấp độ khác nhau của thị trường hiệu quả bao gồm: thị trường hiệu quả dạng yếu, thị trường hiệu quả dạng trung bình và thị trường hiệu quả dạng mạnh.
Nội dung chi tiết cho từng loại thị trường hiệu quả được tác giả tổng hợp như sau: Thị trường hiệu quả dạng yếu Thị trường hiệu quả dạng này cho rằng, giá cả phản ánh tất cả các thông tin có trong tỷ suất sinh lợi trong quá khứ, bao gồm các chuyển dịch liên tục của giá chứng khoán, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các thông tin chung khác như: Mua bán lô lẻ, giao dịch lô lớn…Với giả định rằng, mức giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thuyết cho rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trong quá khứ không có mối liên hệ với tương lai. Nói cách khác, không có nhà đầu tư nào có thể tạo ra tỷ suất sinh lợi thặng dư bằng những căn cứ từ thông tin về giá của chứng khoán trong quá khứ. Thị trường hiệu quả dạng trung bình Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình cho rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả thông tin đại chúng, tức là mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai trong hiện tại cũng như trong quá khứ. Thông tin công khai bao gồm: Các thông tin về thu nhập quá khứ và các dự báo thu nhập, tất cả thông tin trong báo cáo tài chính được công bố đại chúng, tất cả thông tin có liên quan xuất hiện trên các tạp chí kinh doanh, các thông báo về thu nhập và cổ tức, chia cổ phần, chia tách cổ phiếu, thưởng cổ phiếu, và các thông tin về kinh tế cũng như chính trị.
Đối với người tham gia thị trường chứng khoán khi ra quyết định dựa trên các thông tin sau khi được công bố sẽ không thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình bởi mức giá chứng khoán này đã phản ánh mọi thông tin công khai đó. Thị trường hiệu quả dạng này sẽ phản ánh ngay thông tin có liên quan vào giá khi thông tin đó được lan truyền, do đó nhà đầu tư nào càng nhanh tay thực hiện hoạt động đầu tư hơn những người còn lại thì lợi nhuận đạt được sẽ có thể cao hơn so với mức trung bình của thị trường nhưng có thể không đáng kể. Thị trường hiệu quả dạng mạnh Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh cho rằng, giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ. Như vậy, trong một thị trường hiệu quả dạng mạnh, nhà đầu tư sử dụng tất cả những thông tin có thể có, dù rằng các thông tin đó có được phổ biến ra công chúng hay không thì sẽ không thể thu được lợi nhuận vượt trội so với người khác.
Tuy nhiên, thị trường hiệu quả dạng mạnh là một giả thuyết gần như không có trong thực tế. Theo Fama, việc kiểm định thị trường hiệu quả dạng mạnh thực chất là tìm kiếm xem có một nhóm các nhà đầu tư nào sở hữu các thông tin độc quyền dẫn đến việc xác định giá cả chứng khoán trong tương lai hay không. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY Từ nhiều năm trước đây, các nhà nghiên cứu về tài chính trên thế giới đã nhận thấy tác động của vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài đến sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
Trong nỗ lực để tiếp cận vấn đề này, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã cố gắng tiếp cận để khám phá làm rõ tác động của vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài đến sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán. Tuy nhiên, các kết quả thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ này thì không đồng nhất, sự không đồng nhất xuất phát từ việc xuất hiện các luồng quan điểm trái chiều khi cho rằng vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài sẽ làm tăng hoặc làm giảm sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các công ty. Phần tiếp theo đây sẽ trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm tại một số nước trên thế giới về tác động của vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài đến sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán theo trình tự đi từ quá khứ đến hiện tại và sự tương đồng về các kết quả thu được từ các nghiên cứu trên thế giới. Đầu tiên, chương này sẽ điểm qua một số các nghiên cứu nổi bật trên thế giới về sự tác động của vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài sẽ làm gia tăng sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán thông qua các bài nghiên cứu của Joseph E.Stiglitz; Kee-Hong Bea và cộng sự; Zhian Chen và cộng sự như sau: Năm 1999, Joseph E.Stiglitz đã tiến hành thực hiện bài nghiên cứu “Capital Market Liberalization, Economic Growth, and Instability” ở các nước Đông Á, Mỹ Latin và các quốc gia thuộc khu vực miền Nam sa mạc Sahara.
Bài nghiên cứu đã thể hiện rõ tính hai mặt tác động của nguồn vốn nước ngoài đến thị trường trong nước khi cho rằng dòng vốn nước ngoài dài hạn và không mang tính đầu cơ vào nền kinh tế trong nước không chỉ mang lại nguồn vốn cần thiết mà còn đem đến các kỹ năng quản trị tiên tiến, bí quyết marketing, tiếp cận thị trường xuất khẩu mới và đào tạo nguồn nhân lực vì vậy các cổ đông đại diện cho nguồn vốn nước ngoài sẽ có xu hướng cam kết đầu tư dài hạn, đó được coi là sự hỗ trợ về hoạt động cũng như về tài chính cho các công ty trong nước vượt qua các rủi ro bên ngoài. Mặt khác, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nguồn vốn nước ngoài ngắn hạn và mang tính chất đầu cơ sẽ mang độ nhạy cảm trong rủi ro quốc tế đến thị trường chứng khoán trong nước, đặc biệt là trong trường hợp các tổ chức tài chính cũng như cơ quan quản lý thiếu tính tổ chức và quy định chặt chẽ. Chính vì lẽ đó, các dòng vốn đầu cơ này là một trong những nguyên nhân làm cho các cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng nghiêm trọng hơn. Năm 2004, Kee-Hong Bea và cộng sự dựa trên một mẫu nghiên cứu gồm 2000 chứng khoán từ 45 quốc gia mới nổi đã tìm hiểu tác động của nguồn vốn nước ngoài đến sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán tại các thị trường mới nổi qua nghiên cứu được mang tên “Investibility and return volatility”.
Kết quả bài nghiên cứu cho thấy vốn chủ sở hữu của các công ty được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài có thể gây ra sự biến động lớn trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán của công ty tại các thị trường mới nổi đó là một kết quả của sự gia tăng độ nhạy cảm rủi ro bởi sự gia tăng trong phần bù rủi ro toàn cầu. Trước khi tự do hóa, các yếu tố ảnh hưởng từ thế giới không có tác động đến sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán mà chỉ có yếu tố địa phương xuất phát từ hiện tượng phân khúc toàn cầu. Tuy nhiên, khi hội nhập với thế giới, phần bù rủi ro toàn cầu sẽ được ghi nhận vào tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán. Kết quả là, sự liên kết có hệ thống với các yếu tố toàn cầu dẫn đến biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
Năm 2012, trong bài nghiên cứu của Zhian Chen và cộng sự mang tên “Does foreign institutional ownership increase return volatility? Evidence from China” đã nghiên cứu tác động của vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các tổ chức nước ngoài đến biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các công ty tại Trung Quốc, dựa trên một mẫu nghiên cứu gồm 1458 công ty trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2008. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các tổ chức nước ngoài làm gia tăng sự biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán, thậm chí sau khi kiểm soát về cấu trúc vốn chủ sở hữu, quy mô công ty, vòng quay chứng khoán, đòn bẩy. Nhóm tác giả ghi lại một mối quan hệ đồng biến giữa các cổ đông trong nước (cá nhân, tổ chức và Nhà nước) và biến động trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán. Tiếp đến, kết quả thực nghiệm với các biến tương tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.