Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương này giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, nêu rõ lý do hình thành nên đề tài, đưa ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và giới thiệu sơ lược kết cấu đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Đây là chương trình bày các lý thuyết, mô hình, các nghiên cứu trước làm cơ sở cho các lập luận trong luận văn này. Đưa ra cáctác động của hoạt động quản trị nguồn nhân lực đến năng suất làm việc của nhân viên ngân hàng HDBank trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minhđồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này đưa ra một quy trình nghiên cứu cụ thể từ nghiên cứu sơ bộ (định tính) đến nghiên cứu chính thức (định lượng).
Đồng thời tiến hành xây dựng thang đo cáctác động của hoạt động quản trị nguồn nhân lực đến năng suất làm việc của nhân viên ngân hàng. - Chương 4: Phân tích kết quả Chương này sẽ trình bày kết quả phân tích dữ liệu sau khi đã thu thập xong. Các bước phân tích gồm: đặc điểm mẫu nghiên cứu, kiểm định thang đo thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích khám phá EFA, kiểm định và đưa ra kết quả kiểm định của mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu bằng phương pháp phân tích hồi quy. Các phương pháp kiểm định trên được thực hiện thông qua phần mềm SPSS 16.
6 - Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị Nội dung chương này sẽ tóm tắt lại kết quả mới vừa phát hiện được trong quá trình phân tích dữ liệu, từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị cho ngân hàng HDBank trong hoạt độngquản trị nguồn nhân lực để tăng năng suất làm việc của nhân viên. Cuối cùng là phần hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở khoa học thực tiễn, lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài. QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 2.
Khái niệm nguồn nhân lực Theo Begg, Fischer Dornbush (1995), nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng, năng động nhất giúp tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, một vùng lãnh thổ, hay một tổ chức nào đó, … và nó khác các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ) ở chỗ nguồn lực con người là các hoạt động sáng tạo tác động vào giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên trong quá trình lao động, làm nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Theo Trần Kim Dung (2008), nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp ở chỗ nó hình thành từ chính bản chất của con người. Mỗi nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, tiềm năng phát triển khác nhau. Hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Do đó quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) Theo Noe & cộng sự (2003), QTNNL là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý liên quan và có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cán bộ nhân viên của doanh nghiệp đó. QTNNL bao gồm các hoạt động được thiết kế để cung cấp và điều phối các nguồn lực con người của một tổ chức. 8 Theo Price (2004), QTNNL là khoa học về quản lý con người dựa trên niềm tin cho rằng nhân lực đóng vai trò quan trọng bậc nhất tới sự thành công lâu dài của tổ chức hay doanh nghiệp. Một tổ chức/doanh nghiệp có thể tăng lợi thể cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng người lao động một cách hiệu quả, tận dụng kinh nghiệm và sự khéo léo của họ nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra.
QTNNL nhằm mục đích tuyển chọn được những người có năng lực, nhanh nhạy và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt động và khen thưởng kết quả hoạt động cũng như phát triển năng lực của họ. Theo Trần Kim Dung (2008), QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. QTNNL nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức; - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với doanh nghiệp. Theo Lado và Wilson (1994) mô tả QTNNL là một tập hợp các hoạt động riêng biệt nhưng liên quan đến nhau, có chức năng và quy trình hướng vào việc thu hút, phát triển và duy trì “nguồn tài nguyên con người” của một tổ chức.
Còn theo Dessler (2010), Ahmad and Schroeder (2003), Kaya (2006) hoạt động QTNNL đóng góp đáng kể vào thành tựu của một tổ chức, tạo ra mục tiêu của tổ chức và tăng thêm giá trị cho khách hàng. Cấu tạo hoạt động QTNNL Các nghiên cứu trước đây đã đưa ra các hoạt động của QTNNL gồm các thành phần như sau: 9 - Theo mô hình nghiên cứu của Guest (1997) hoạt động QTNNL gồm 07 thành phần: Tuyển dụng; Đào tạo; Đánh giá nhân viên; Quản lý lương, thưởng; Mô tả công việc; Sự tham gia của nhân viên; Địa vị và bảo đảm ổn định trong công việc. - Theo Ramlall (2003) đã đo lường việc nâng cao hiệu quả của QTNNL thông qua các thành phần: Lập kế hoạch chiến lược; Thu nhận người lao động; Đào tạo & phát triển; Phát triển & thay đổi tổ chức; Quản lý kết quả làm việc; Hệ thống lương, thưởng; Lý thuyết & hành vi tổ chức. - Theo nghiên cứu của Pfeffer (1998), ông đề xuất 07 thành phần trong QTNNL: Bảo đảm ổn định trong công việc; Tuyển chọn nhân viên mới; Đội tự quản và phi tập trung trong công việc ra quyết định; Mức lương thưởng tương đối cao theo kết quả; Mở rộng đào tạo; Giảm khoảng cách về chức vụ và các rào cản như giảm khoảng cách về tiền lương; Mở rộng việc chia sẻ thông tin về kết quả tài chính trong tổ chức.
- Theo mô hình nghiên cứu của Singh (2004), hoạt động QTNNL gồm có 07 thành phần: Đào tạo; Đánh giá nhân viên; Hoạch định nghề nghiệp; Thu hút nhân viên vào các hoạt động; Xác định công việc; Trả công lao động; Tuyển dụng. - Mô hình nghiên cứu của Marwat & Qureshi M Tahir (2011) cho rằng hoạt động QTNNL có 07 thành phần: Tuyển dụng; Đào tạo; Đánh giá kết quả làm việc; Hoạch định nghề nghiệp; Mức đãi ngộ lương, thưởng; Sự tham gia của nhân viên; Xác định công việc. - Theo Trần Kim Dung (2011), QTNNL gồm có 12 hoạt động chức năng bao gồm: Hoạt động thống kê nhân sự; Xác định nhiệm vụ, công việc; Hệ thống thu hút, tuyển chọn; Đào tạo; Đánh giá kết quả làm việc của nhân viên; Phát triển nghề nghiệp; Sự tham gia của nhân viên vào quản lý; Chế độ đãi ngộ; Tuân thủ pháp luật và tạo môi trường/không khí làm việc tốt; Thông tin; Đổi mới; Điều hành chung. - Nguyễn Hải Long (2010) đo lường tác động của thực tiễn QTNNL đến sự hài lòng trong công việc của tiếp viên Hãng hàng không quốc gia Việt Nam đã sử dụng thang đo gồm 08 thành phần: Tuyển dụng lao động; Xác định công việc; Huấn 10 luyện đào tạo; Đánh giá tiếp viên; Trả công lao động; Động viên, khuyến khích; Hoạch định nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến; Quản lý và thu hút tiếp viên vào các hoạt động.
- Phạm Thị Gia Tâm (2012) đo lường tác động của thực tiễn QTNNL đến sự gắn kết của nhân viên với tổ chức tại các Ngân hàng TMCP ở TP.HCM đã sử dụng thang đo gồm 07 thành phần: Phân tích công việc; Tuyển dụng; Định hướng & phát triển nghề nghiệp; Đào tạo & phát triển; Trả công lao động; Đánh giá kết quả làm việc của nhân viên; Quản lý và thu hút nhân viên vào các hoạt động. - Trương Thị Thu Hằng (2014) đo lường tác động của QTNNL đến hiệu suất làm việc của nhân viên ngân hàng trên địa bàn TP.HCM qua 03 thang đo gồm: Chính sách lương; Đánh giá hiệu quả làm việc; Hiệu suất làm việc của nhân viên. - Đặng Văn Bảo (2012) phân tích ảnh hưởng của hoạt động QTNNL đến năng suất của các doanh nghiệp sản xuất tại TP.HCM bằng 05 thang đo: Phân tích công việc; Tuyển dụng; Đào tạo & phát triển; Đánh giá kết quả thực hiện công việc và Trả công lao động.NĂNG SUẤT LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Có khá nhiều định nghĩa về năng suất trên các góc độ và quan điểm khác nhau. Khái niệm năng suất thay đổi, mở rộng theo thời gian.
Năng suất là một thuật ngữ có nghĩa rộng, ý nghĩa của nó có thể thay đổi tùy thuộc vào phạm vi sử dụng (Tangen, 2005, trích trong Trần Thị Kim Loan, Bùi Nguyên Hùng, 2009). Theo quan điểm truyền thống, khái niệm năng suất được hiểu một cách đơn giản. Đó là mối quan hệ (tỷ số) giữa các kết quả đầu ra với các đầu vào đã sử dụng. Nó đo lường hiệu suất sử dụng nguồn lực để sản xuất đầu ra cần thiết.
Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến việc chỉ chú trọng đến số lượng mà ít quan tâm đến khía cạnh chất lượng. Do những thay đổi nhanh chóng về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ, đặc biệt là xu hướng toàn cầu về kinh tế, tự do hóa thương mại và sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng, chi phí … nên năng suất đã có cách tiếp cận mới.