CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa thực tiễn của quản trị nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL): Là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường.
NNL với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. NNL còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động sản xuất. Theo Trần Kim Dung (2013): Nguồn nhân lực của tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân với vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Còn đối với một tổ chức, doanh nghiệp hiện nay, trong bốn yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thì yếu tố nhân lực (hay con người) được xem là yếu tố trung tâm, yếu tố hàng đầu mang tính quyết định và liên kết các yếu tố khác để tạo nên sức mạnh tổng hợp.
Tuy nhiên mỗi con người cụ thể trong một thời điểm nhất định thì có một vốn tri thức nhất định. Do đó các doanh nghiệp muốn sử dụng có hiệu quả cao và phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp thì phải chú trọng công tác quản trị NNL. Quản trị nguồn nhân lực Có nhiều cách hiểu về quản trị nguồn nhân lực (còn gọi là quản trị nhân lực, quản trị nhân sự). Khái niệm quản trị nguồn nhân lực có thể được trình bày theo nhiều góc độ khác nhau.
Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì quản trị NNL bao gồm việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức. Đi sâu vào việc làm của quản trị NNL, còn có thể hiểu quản trị NNL là việc tuyển mộ, 10 tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó. Song dù ở giác độ nào thì quản trị NNL vẫn là hoạt động của tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng. Vì vậy có thể thấy rằng, bản chất của quản trị NNL là công tác quản lý con người trong phạm vi một tổ chức, là sự đối xử của một tổ chức doanh nghiệp với người lao động.
Nói cách khác, quản trị NNL chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào doanh nghiệp giúp họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh, quản trị NNL trong doanh nghiệp có các mục tiêu cơ bản: - Thu hút, lôi cuốn người lao động về với doanh nghiệp. - Đào tạo, sử dụng có hiệu quả NNL nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp. - Động viên, thúc đẩy nhân viên, tạo điều kiện cho họ bộc lộ, phát triển và cống hiến tài năng cho doanh nghiệp, giúp họ gắn bó, tận tâm, trung thành với doanh nghiệp. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực 1.
Đối với người lao động Quản trị NNL có vai trò cực kỳ quan trọng đối với bản thân người lao động. Vai trò đó được thể hiện ở những tác dụng cơ bản sau: - Tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp. - Tạo ra sự chuyên nghiệp của người lao động. - Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như trong tương lai.
- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động. - Tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc. Đối với doanh nghiệp Quản trị NNL được coi là điều kiện quyết định để một tổ chức, doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển đi lên trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Quản trị NNL giúp cho doanh nghiệp: 11 - Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc.
- Nâng cao chất lượng thực hiện công việc. - Giảm bớt được sự giám sát vì người lao động được đào tạo là người có khả năng tự giám sát. - Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức, doanh nghiệp. - Duy trì và nâng cao chất lượng của NNL.
- Tạo điều kiện cho việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp. - Tạo ra được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy, hoạt động quản trị NNL đối với một tổ chức, doanh nghiệp là vô cùng quan trọng và cần thiết. Nó không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong hiện tại và còn có ý nghĩa to lớn trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp và xã hội.
Đối với xã hội Trong xu thế phát triển chung của toàn xã hội với sự phân công và hợp tác ngày càng cao thì quản trị NNL có vai trò cực kỳ quan trọng cho toàn bộ nền kinh tế. Đó là việc sử dụng tối ưu các nguồn lực nói chung, NNL nói riêng, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững và hiệu quả nhất. Quản trị NNL không chỉ sử dụng tối đa lực lượng lao động trong hiện tại mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, nó vừa mang tính ngắn hạn vừa mang tính dài hạn cho sự phát triển chung và bền vững. Ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực Nghiên cứu quản trị NNL giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác.
Một quản trị gia có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại, chính xác… nhưng nhà quản trị đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển đúng người cho đúng việc, hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc. Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm theo mình, nhiều khi các quản trị gia có thế mạnh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhưng lại không được đào tạo hoàn chỉnh trong cách lãnh đạo nhân viên. Họ điều khiển giỏi và giành nhiều thời gian làm việc với các máy móc, trang bị kỹ thuật hơn làm việc với 12 con người. Thực tế cho thấy, một lãnh đạo giỏi cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu giải quyết các vấn đề nhân sự hơn các vấn đề khác.
Nghiên cứu quản trị nguồn lực giúp cho các nhà quản trị học được cách nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đưa chiến lược con người trở thành một bộ phận hữu cơ trong chiến lược phát triển của đơn vị. Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực 1. Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng đến vấn đề đảm bảo đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp. Để có thể tuyển được đúng người cho đúng việc, trước hết doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh và thực trạng sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhằm xác định những công việc nào cần tuyển thêm người.
Thực hiện phân tích công việc sẽ cho biết doanh nghiệp cần tuyển thêm bao nhiêu lao động và yêu cầu tiêu chuẩn như thế nào. Việc áp dụng các kỹ năng tuyển dụng như phỏng vấn và trắc nghiệm sẽ giúp cho doanh nghiệp chọn được ứng viên tốt nhất cho công việc. Nhóm chức năng thu hút NNL thường có các hoạt động: hoạch định NNL, phân tích công việc, tuyển dụng NNL. Các hoạt động đó cụ thể như sau: 1.
Hoạch định nguồn nhân lực - Khái niệm Hoạch định NNL là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu NNL, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ lao động, với phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. - Nội dung Hoạch định NNL bao gồm các hoạt động dự báo nhu cầu NNL của doanh nghiệp và hoạch định những bước tiến hành để đáp ứng nhu cầu đó. Nó bao gồm việc triển khai, thực hiện các kế hoạch và chương trình nhằm đảm bảo cung ứng đủ số lượng và chủng loại lao động vào đúng thời điểm, đúng nơi cần người để đáp ứng đầy đủ nhu 13 cầu của doanh nghiệp. Quá trình hoạch định nhân lực được tiến hành theo các bước sau: Môi trường bên ngoài Môi trường bên trong Hoạch định chiến lược Hoạch định nguồn nhân lực Dự báo Khả năng So sánh giữa nhu cầu và khả nhu cầu sẵn có năng Nhu cầu bằng khả Thừa Thiếu năng Đề ra chính sách và kế hoạch Tuyển dụng - Sắp xếp - Giảm giờ - Thuyên lại.
- - - Kiểm tra và đánh giá (Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính - BIDV Tây Nam) Hình 1.1: Sơ đồ thực hiện hoạch định nguồn nhân lực Bước 1: Dự báo nhu cầu và xác định khả năng NNL hiện tại. Nhu cầu NNL phải được xác định theo cơ cấu lao động tối ưu về số lượng, chất lượng, đặc điểm lao động cần có cho từng loại lao động, cho từng bộ phận, từng nghề và tổng hợp chung cho nhu cầu lao động toàn doanh nghiệp. Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng. 14 Sau khi phân tích khả năng NNL sẵn có và dự báo nhu cầu trong tương lai, doanh nghiệp sẽ tính toán, cân đối giữa nhu cầu và khả năng.
Có thể chia ra ba trường hợp sau: Trường hợp 1: nhu cầu bằng khả năng Trường hợp 2: thừa lao động (khả năng lớn hơn nhu cầu).