mở đầu luận văn bao gồm 4 chương tiếp theo. Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu trình bày các khái niệm, mô hình nghiên cứu trước đó trên thế giới và của Việt Nam về tác động phong cách lãnh đạo chuyển dạng đến hiệu quả làm việc, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài. Chương 3 là Phương pháp nghiên cứu trình bày thiết kế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Thực hiện các bước nghiên cứu định tính và các bước nghiên cứu định lượng.
Chương 4 Kết quả nghiên cứu, tiến hành các bước phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu dựa trên đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tác động các yếu tố của phong cách lãnh đạo chuyển dạng đến hiệu quả công việc. Chương cuối cùng của luận văn bao gồm kết luận, kiến nghị và giải pháp, chương này nêu lên các kết luận, kết quả nghiên cứu của đề tài, giải pháp nâng cao hiệu quả làm việc của lực lượng kiểm lâm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này sẽ tìm hiểu các khái niệm cơ bản về lãnh đạo, phong cách lãnh đạo chuyển dạng, hiệu quả công việc và mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng và hiệu quả công việc.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Lãnh đạo Theo Nguyễn Hữu Lam ( 1997), lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu.
Theo Nguyễn Đình Phong (2015), lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng giữa chủ thể lãnh đạo và khách thể lãnh đạo nhằm xây dựng và phát triển nhóm, tổ chức xã hội. Theo Stogdill (1957), định nghĩa Lãnh đạo là hành vi cá nhân để hướng dẫn một nhóm để đạt được mục tiêu chung. Fry (2003), giải thích về khả năng lãnh đạo bằng cách sử dụng chiến lược hàng đầu nhằm tạo động lực thúc đẩy và tăng cường tiềm năng của nhân viên đối với tăng trưởng và phát triển. Tác giả Rusalinova (1973), cho rằng phong cách lãnh đạo là những tác động qua lại xuất hiện ổn định của người lãnh đạo với tập thể, nó được hình thành dưới ảnh hưởng của các điều kiện quản lý khách quan, chủ quan cũng như các đặc điểm tâm lý cá nhân của người quản lý.
Theo Dzuravlev (1985), phong cách là hệ thống các biện pháp, phương pháp tác động của người lãnh đạo tới tập thể nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc quản lý.Lêwin (1986) coi phong cách lãnh đạo thực chất đó là nghệ thuật sử dụng quyền lực của người lãnh đạo, quản lý và quá trình xử lý tình huống xảy ra trong công việc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Paul Hersey và Ken Blancha (1988), lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong những tình huống nhất định. Phong cách lãnh đạo là hành vi, cách thức làm việc của nhà lãnh đạo. Một nhà lãnh đạo giỏi là nhà lãnh đạo có phong cách lãnh đạo hợp lý để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nhân viên, vừa phát huy sức mạnh của tổ chức.2 Phong cách lãnh đạo chuyển dạng (Transformational leadership) Burns (1978) là một trong những người đầu tiên đưa ra một định nghĩa rõ ràng về sự lãnh đạo chuyển dạng.
Ông đề xuất rằng quá trình lãnh đạo xảy ra theo một trong hai cách: Giao dịch hoặc chuyển dạng: Lãnh đạo giao dịch dựa trên cơ chế quan liêu và tính hợp pháp trong tổ chức. Các nhà lãnh đạo giao dịch nhấn mạnh các tiêu chuẩn công việc, các bài tập, và các mục tiêu định hướng nhiệm vụ. Ngoài ra, các nhà lãnh đạo giao dịch có xu hướng tập trung vào việc hoàn thành nhiệm vụ và tuân thủ nhân viên, và các nhà lãnh đạo này dựa khá nhiều vào phần thưởng của tổ chức và các hình phạt để ảnh hưởng đến hiệu suất của nhân viên. Ngược lại, Burns mô tả sự lãnh đạo chuyển dạng như một quá trình thúc đẩy các tín đồ bằng cách thu hút các lý tưởng cao hơn và các giá trị đạo đức.
Các nhà lãnh đạo chuyển dạng phải có khả năng định nghĩa và nói rõ tầm nhìn cho các tổ chức của họ, và những người đi theo phải chấp nhận uy tín của lãnh đạo. Theo Bernard Bass (1985), các nhà lãnh đạo chuyển dạng thành công trong việc tạo cơ hội và giúp đỡ cho đồng nghiệp, cấp dưới, người đi theo và khách hàng của mình. Giúp họ nhận thức rõ ràng các cơ hội, thách thức và cả những rủi ro có thể xảy ra. Sự lãnh đạo chuyển dạng như là quá trình tạo ra, duy trì và tăng cường sự lãnh đạo - nhân viên và quan hệ đối tác dẫn đầu trong việc theo đuổi mục tiêu tầm nhìn chung, phù hợp với các giá trị chia sẻ và thay mặt cho cộng đồng trong đó các nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lãnh đạo và nhân viên cùng nhau phục vụ.
Trong bối cảnh quá trình phục vụ và quan hệ đối tác, cả lãnh đạo và nhân viên và cuối cùng toàn thể cộng đồng trải nghiệm mức độ đẳng cấp với đặc tính, tầm nhìn và giá trị của cộng đồng. Các nhà lãnh đạo chuyển dạng bắt đầu và duy trì một quá trình hợp tác trong và qua đó các nhà lãnh đạo và nhân viên và toàn bộ cộng đồng trải qua những mức độ gia tăng phù hợp giữa tầm nhìn và giá trị mà họ tán thành, và tính cách, năng lực và cách ứng xử của họ. Các nhà lãnh đạo chuyển dạng là chất xúc tác cho một quá trình thay đổi, trong đó các nhà lãnh đạo, nhân viên và cộng đồng ngày càng trở nên giống như những người mà họ mong muốn và hành động ngày càng phù hợp với những gì họ muốn. Các nhà lãnh đạo cùng nhân viên và toàn bộ cộng đồng hành trình với họ đến một tương lai tốt đẹp hơn, thể hiện rõ hơn tầm nhìn cá nhân và tập thể của họ và tôn trọng các giá trị chia sẻ của họ.
Theo Bass (2003), các nhà lãnh đạo chuyển dạng thôi thúc những nhân viên của mình đạt được nhiều hơn ý tưởng ban đầu của họ và mong muốn kích thích những nhân viên này vượt xa lợi ích cá nhân của họ vì lợi ích của nhóm. Người lãnh đạo chuyển dạng có thể thu hút ý chí của những người đi theo bằng cách sáp nhập các mục tiêu cá nhân của họ với mục đích tổ chức. Boehnke, Bontis, DiStefano và DiStefano (2003) cho rằng tầm nhìn, cảm hứng, kích thích, huấn luyện và xây dựng nhóm là những hành vi lãnh đạo chuyển dạng. Các thành phần của phong cách lãnh đạo chuyển dạng do Bass phát triển từ năm 1985 bao gồm bốn thành phần: Động lực thúc đẩy, ảnh hưởng lý tưởng, sự khích lệ tinh thần và quan tâm cá nhân.
Động lực thúc đẩy đề cập đến các nhà quản lý thúc đẩy nhân viên bằng cách cung cấp ý nghĩa và thách thức trong công việc của họ, tạo ra động lực và cam kết cho nhân viên. Động lực thúc đẩy thường là một người bạn đồng hành của uy tín và quan tâm đến một nhà lãnh đạo đặt các tiêu chuẩn cao hơn, do đó trở thành một dấu hiệu tham khảo. Bass (1985), chỉ ra những nhân viên nhìn vào người lãnh đạo của họ như là một cảm xúc để nâng cao nhận thức và hiểu biết về các mục tiêu cùng có lợi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Điều này được đặc trưng bằng cách truyền đạt những kỳ vọng cao, sử dụng các biểu tượng để tập trung nỗ lực và thể hiện mục đích quan trọng bằng những cách đơn giản.
Nhà lãnh đạo luôn luôn hành động nói chuyện lạc quan về tương lai, nhấn mạnh tầm nhìn hấp dẫn cho tương lai và cung cấp một hình ảnh thú vị về sự thay đổi tổ chức (Bass and Avolio, 1994). Động lực xảy ra bằng cách cung cấp ý nghĩa và thách thức cho những người đi theo. Ảnh hưởng lý tưởng đề cập đến các nhà lãnh đạo, quản lý được ngưỡng mộ, tôn trọng và đáng tin cậy và nhân viên muốn bắt chước các nhà lãnh đạo của họ. Theo De Hoogh và cộng sự (2004) những thành phần này được coi là trung tâm của sự lãnh đạo chuyển dạng và cũng có thể được coi là sự lãnh đạo có sức thu hút.
Thu hút được sự chú ý và tin tưởng (Humphreys & Einstein, 2003), đặc trưng bởi tầm nhìn và ý thức sứ mệnh, truyền cảm hứng cho cả nhóm và trong nhóm. Hành vi lôi cuốn cũng gây ra những người theo đuổi vượt quá lợi ích cá nhân vì lợi ích của nhóm, đảm bảo rằng những trở ngại sẽ được vượt qua và thúc đẩy niềm tin vào thành quả đạt được và thực hiện (Conger and Kanungo, 1998; Howell and Frost, 1989). Sự khích lệ tinh thần có thể được xem như những nhà quản lý kích thích nỗ lực của những người đi theo để sáng tạo và sáng tạo bằng cách đặt câu hỏi về những giả định, sắp xếp lại các vấn đề và tiếp cận những tình huống cũ theo những cách mới. Kích thích trí tuệ cung cấp cho những người đi theo những ý tưởng đầy thách thức mới và khuyến khích họ phá vỡ cách suy nghĩ cũ (Bass, 1985).
Người lãnh đạo được đặc trưng như là một người thúc đẩy trí thông minh, tính hợp lý, tư duy logic và giải quyết vấn đề cẩn thận. Quan tâm cá nhân là sự quan tâm của người lãnh đạo, quản lý đối với nhu cầu của mỗi cá nhân trong tổ chức. Nhà lãnh đạo chú ý tới sự khác biệt giữa các cá nhân và làm người cố vấn cho nhân viên của mình. Lãnh đạo dạy và giúp nhân viên phát triển thế mạnh của họ, và lắng nghe chăm chú từ nhân viên.
Vậy phong cách lãnh đạo chuyển dạng theo Bass (2003) là những nhà lãnh đạo thôi thúc những nhân viên của mình đạt được nhiều hơn những ý tưởng ban đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 của họ. Do nhà lãnh đạo chuyển dạng đối xử với nhân viên của mình dựa trên những giá trị đạo đức nên nhân viên cảm thấy mình được tôn trọng, tin tưởng nên họ sẵn sàng vì lợi ích của tổ chức bỏ qua lợi ích cá nhân.