Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chƣơng này tác giả giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của đề tài. 4 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu liên quan, trong chƣơng này tác giả tổng hợp và trình bày kết quả bài nghiên cứu trƣớc đây về ảnh hƣởng của nợ đến tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp và một số lý thuyết giải thích cho sự ảnh hƣởng này. Chương 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu, trong chƣơng này tác giả trình bày cụ thể phƣơng pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và cơ sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng nhƣ mô tả các biến độc lập, biến phụ thuộc sử dụng trong đề tài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, trong chƣơng này tác giả trình bày kết quả thực nghiệm bao gồm các phân tích, giải thích về các mô tả thống kê, các phân tích về tƣơng quan và hồi quy và thảo luận về kết quả.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách, trong chƣơng này tác giả tổng hợp lại kết quả của vấn đề nghiên cứu và đƣa ra các gợi mý chính sách phù hợp. Phần này cũng đƣa ra những hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu mở rộng. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ VAY ĐẾ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG Trong chƣơng này, tác giả sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết về lợi nhuận doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận doanh nghiệp. Đồng thời, chƣơng này cũng khảo lƣợc các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nƣớc trƣớc đây về tác động của nguồn tài trợ nợ đến lợi nhuận doanh nghiệp.
LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm Theo Ngô Kim Phƣợng (2018): “Lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Do đó, lợi nhuận phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của doanh nghiệp. Một trong những mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận”.
Theo Trần Ngọc Thơ (2007): “Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, bao gồm cả chi phí cơ hội, để đạt đƣợc doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang lại. Lợi nhuận của doanh nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của chính doanh nghiệp”. Tóm lại, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể đƣợc hiểu nhƣ là khoản chênh lệch đƣợc xác định giữa tổng doanh thu và tổng chi phí, hợp lệ trong năm tài chính. Lợi nhuận doanh nghiệp đƣợc thực hiện trong năm là kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính và các hoạt động khác.
Thời điểm xác định lợi nhuận hàng năm đƣợc thực hiện vào cuối ngày 31/12 khi quyết toán niên độ, lập báo cáo tài chính năm. Lợi nhuận của doanh nghiệp đƣợc chia thành hai loại quan trọng là: lợi nhuận trƣớc thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, đƣợc xác định nhƣ sau: Lợi nhuận trƣớc thuế: số lợi nhuận thu đƣợc trong năm của doanh nghiệp từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát 6 sinh trong năm trƣớc khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận trƣớc thuế là tổng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp. Theo Ngô Kim Phƣợng (2018), lợi nhuận trƣớc thuế đƣợc tính nhƣ sau: Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập - Tổng chi phí Cũng theo Ngô Kim Phƣợng (2018), lợi nhuận sau thuế là phần chênh lệch giữa lợi nhuận trƣớc thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp 2. Các chỉ tiêu đại diện tỷ suất lợi nhuận 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Theo Ngô Kim Phƣợng (2018), ROA đo lƣờng hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, không phân biệt tài sản này đƣợc hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. ROA là suất sinh lời trên tài sản của doanh nghiệp sau tác động của thuế nhƣng chƣa có tác động của nợ, do đó ROA chịu ảnh hƣởng bởi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp.
ROA phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp. ROA vừa là cơ sở quan trọng để xem xét liệu doanh nghiệp có thể tạo ra mức sinh lời cao hơn chi phí sử dụng nợ không; vừa là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Ngô Kim Phƣợng (2018), ROE là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tƣ của chủ sở hữu vào doanh nghiệp đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. ROE có liên quan đến chi phí lãi vay, liên quan đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp.
vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dƣới tác động của đoàn bẩy tài chính. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một 7 cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Tỷ lệ hoàn vốn (ROI) Ngô Kim Phƣợng (2018), ROI đo lƣờng khả năng tạo ra lợi nhuận trên một đồng vốn đầu tƣ vào doanh nghiệp, không phân biệt vốn đầu tƣ đƣợc hình thành từ những nguồn nào, một đồng vốn đầu tƣ vào doanh nghiệp tạo ra cho nền kinh tế bao nhiêu đồng lợi nhuận. Do ROI đƣợc xác định dựa trên lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay nên ROI không phụ thuộc vào mức độ sử dụng nợ và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp.
Vì vậy, ROI là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn khách quan nhất và có thể đƣợc dùng để so sánh khả năng sinh lời của vốn đầu tƣ ở các doanh nghiệp khác nhau. Bên cạnh đó, ROI vừa là cơ sở để đánh giá khả năng trả lãi của doanh nghiệp, vừa là cơ sở để đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn. NỢ VAY CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm Theo Nguyễn Thị Diệu Chi (2018), vốn nợ hay nợ vay là nguồn tài chính từ bên ngoài doanh nghiệp, thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh, đóng vai trò đòn bẩy tài chính nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Việc xác định một cấu trúc nợ vay phù hợp sẽ góp phần quan trọng với doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối ƣu hóa lợi nhuận mà còn ảnh hƣởng tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Cấu trúc nợ vay đứng trên góc độ nguồn vồn huy động là mối tƣơng quan giữa nợ vay/tổng tài sản gồm các chỉ tiêu nhƣ tổng nợ/tổng tài sản, nợ ngắn hạn/tổng tài sản, nợ dài hạn/tổng tài sản. 8 Bùi Đan Thanh (2016), nguồn vốn nợ (nợ phải trả) của doanh nghiệp là khoản tín dụng doanh nghiệp phải cam kết thanh toán lại với các chủ nợ số nợ gốc và các khoản chi phí sử dụng vốn theo thời hạn quy định. Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Phân loại nợ vay theo kỳ hạn Căn cứ theo kỳ hạn vay, nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ dài hạn Nợ dài hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong thời gian lớn hơn một năm hay nhiều chu kì kinh doanh. Nợ dài hạn là nguồn vốn có tính ổn định. Do đó, việc sử dụng cao nguồn vốn này giúp cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp ổn định hơn và giảm áp lực thanh toán trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, lãi suất các khoản vay dài hạn thƣờng cao hơn các khoản vay ngắn hạn nên chi phí sử dụng nợ dài hạn là cao hơn. Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong thời hạn một năm trở xuống. Nợ ngắn hạn là nguồn vốn có chi phí thấp nhƣng tạo ra áp lực thanh toán cao đối với doanh nghiệp. Các khoản nợ này thƣờng đƣợc thanh toán bằng các khoản tiền thu đƣợc do quá trình luân chuyển tài sản tạo ra.
Nợ ngắn hạn bao gồm: các khoản vay ngắn hạn, các khoản phải trả thƣơng mại và phải trả ngắ hạn khác. Việc sử dụng nợ vay của doanh nghiệp ngành xây dựng Các đặc điểm chính của ngành xây dựng là: Một là, tình hình và điều kiện sản xuất trong ngành xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng. Hai là, chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp ngành xây dựng thƣờng dài, các sản phẩm rất đa dạng, có tính cá biệt cao và chi phí sản xuất lớn. Ba là, ngành xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn; 9 Bốn là, đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô.
Ngành xây dựng cũng là ngành đóng góp khá lớn vào tăng trƣởng kinh tế. Thị trƣờng xây dựng Việt Nam phân hóa mạnh và cạnh tranh gay gắt với số lƣợng doanh nghiệp lớn, rào cản gia nhập thấp, công nghệ khá tƣơng đồng giữa các nhà thầu. Đến năm 2017, theo Tổng cục Thống kê, tại Việt Nam có khoảng 67.000 doanh nghiệp xây dựng, chiếm 13% tổng số doanh nghiệp cả nƣớc. Cạnh tranh trong ngành xây dựng dựa trên giá đấu thầu và khả năng hoàn thành dự án của nhà thầu.
Hai yếu tố này đƣợc quyết định chủ yếu bởi: quy mô tài chính, công nghệ thi công, và khả năng quản lý dự án. Xét các tiêu chí này, nhóm nhà thầu nƣớc ngoài có khả năng cạnh tranh cao nhất tại Việt Nam, sau đó là nhóm doanh nghiệp tƣ nhân trong nƣớc, cuối cùng là nhóm doanh nghiệp nhà nƣớc. Quy mô sản phẩm xây dựng năm 2016 đạt 1.089 nghìn tỷ, tƣơng đƣơng 25% giá trị GDP. Theo ƣớc tính, xây dựng nhà ở chiếm phần lớn nhất, tiếp theo là cơ sở hạ tầng, nhà không để ở và công nghiệp.1 – Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nƣớc của nền kinh tế và ngành công nghiệp, xây dựng 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 GDP (nền 6.08 kinh tế) GDP(Công nghiệp, Xây 6.