Chương 1: Cung cầu, chính sách và thực trạng nhập nhẩu ô tô của một số quốc gia trên thế giới. - Chương 2: Chính sách, thực trạng hoạt động nhập khẩu ô tô của Việt Nam và tác động tới ngành công nghiệp ô tô Việt Nam - Chương 3: Định hướng phát triển và một số kiến nghị nhằm khắc phục tồn tại trong hoạt động nhập khẩu ô tô và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 8 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Cơ sở lý luận của hoạt động nhập khẩu 1. Khái niệm nhập khẩu Xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế.
Nó không phải là những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân. Do đó xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh tế đối ngoại dễ đem lại những hiệu quả đột biến rất cao, hoặc có thể gây thiệt hại vì nó phải đương đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể tham gia nhập khẩu không dễ dàng khống chế được. Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương. Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước.
Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là để nhập về hàng hoá mà nếu sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển nền kinh tế trong nước, trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố sản xuất: Công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động đóng vai trò quan trọng nhất. Vai trò, tác động của nhập khẩu hàng hóa tới đời sống kinh tế xã hội và tới ngành sản xuất trong nước Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay của nước ta vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau: - Đối với ngành sản xuất trong nước Nhập khẩu cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại tức là tạo ra động lực buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, thúc đẩy sản xuất trong nước.
Tính cạnh tranh này được thể hiện qua giá cả hàng hóa, mẫu mã chủng loại cũng như chất lượng của hàng hóa. Những yếu tố đó sẽ được người tiêu dùng cân nhắc so sánh để lựa chọn tiêu dùng hàng nội hay hàng ngoại nhập. Đối với trình độ công nghệ của ngành: Nhập khẩu giúp tăng cường sự chuyển giao công nghệ, tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm được chi phí và thời gian, giúp cho các doanh nghiệp trong ngành tiếp thu được trình độ công nghệ tiên tiến từ nước ngoài và áp dụng để phát triển sản xuất trong nước. Đối với lao động trong ngành: tác động của nhập khẩu đối với lao động trong ngành sản xuất trong nước được thể hiện theo 2 chiều: giúp tăng tỷ lệ lao động có tay nghề, trình độ và giảm bớt lao động giản đơn.
- Đối với đời sống xã hội Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá đất nước. Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối và ổn định. 1 Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài. Nhập khẩu tăng khả năng tiêu dùng, đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, qui cách, cho phép thoả mãn tốt hơn nhu cầu trong nước. Các yếu tố tác động đến nhập khẩu ô tô 1. Sự thay đổi trong mức thu nhập và thị hiếu người tiêu dùng Trong thời gian đầu phát triển kinh tế, thu nhập của người dân Việt Nam còn thấp, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, do đó vai trò của ô tô thời gian này chỉ đơn thuần là một phương tiện vận tải, và ngành sản xuất ô tô cũng chỉ dừng lại ở mức lắp ráp đơn giản.
Nhưng trước tốc độ phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế, thu nhập người dân ngày càng tăng cao, đời sống người tiêu dùng Việt Nam cũng ngày càng được cải thiện, thì mỗi người đều muốn sở hữu một chiếc ô tô cho riêng mình, vừa để đáp ứng nhu cầu đi lại, vừa là một cách để thể hiện cá tính riêng. Do đó, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng xe nhập ngoại là điều tất yếu. Một mặt do các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu ngày một khó tính của khách hàng, về mẫu mã và độ bền của sản phẩm. Thứ hai là do nhiều dòng xe nhập ngoại vốn đã nổi tiếng từ lâu trên thị trường thế giới về kiểu dáng đa dạng phong phú và chất lượng cao.
Đặc biệt trong năm 2010, các dòng xe Hàn Quốc nhập khẩu bùng nổ trên thị trường Việt Nam. Các model xe mới nhất của Huyndai, Kia với kiểu dáng thời trang, tiện nghi đầy đủ và giá thành hợp lý đã thổi cơn gió mới vào tâm lý và thói quen mua ô tô đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam. Với người tiêu dùng ngày nay, đặc biệt là giới trẻ, xe hơi là phương tiện giao thông cao cấp, chứ không phải là tài sản cả cuộc đời như trước 1 đây. Do nhu cầu công việc, cộng thêm mong muốn thể hiện mình, họ chọn lựa những mẫu xe hợp với khả năng tài chính trong thời điểm hiện tại và lên kế hoạch đổi xe mới trong vài năm tới.
Và xe nhập khẩu từ Hàn Quốc đã đáp ứng được nhu cầu đó. Mặc dù có nhiều dòng xe của Hàn Quốc, Nhật. cũng đã được liên doanh lắp ráp tại Việt Nam, tuy nhiên các dòng xe nhập khẩu nguyên chiếc vẫn được yêu thích hơn cả. Bởi xe nội không nhiều mẫu mã thời trang như xe nhập Hàn Quốc, không bền bỉ như xe Nhật, không phong cách mạnh mẽ như xe Mỹ, không đẳng cấp tiện nghi được như xe Đức.
Đó chính là lý do nhiều người tiêu dùng vẫn chuộng các dòng xe nhập ngoại hơn. Tại Việt Nam hiện nay, các dòng xe đa dụng gia đình/xe việt dã (MPV/SUV) là dòng xe bán chạy nhất, tổng doanh số bán ra năm 2010 đạt hơn 33 nghìn xe (trung bình gần 3.000 xe/tháng). Tiếp đến là dòng xe du lịch với doanh số 24 nghìn xe. 1: Doanh số các dòng xe phân theo khu vực địa lý Nguồn: VAMA Do thu nhập của người Việt Nam còn tương đối thấp, và được xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình (1.200 USD/năm), nên dòng xe có giá từ 200 – 700 1 USD được ưa chuộng nhất.
Trong đó, dòng xe Toyota Innova đạt doanh số bán cao nhất trong nước. 1: Xếp hạng 5 mẫu xe MPV/SUV và 5 mẫu xe du lịch bán chạy nhất năm 2010 Giá tham khảo STT Mẫu xe Doanh số (chiếc) (triệu đồng) Xe MPV/SUV 1 Toyota Innova 7.007 Xe du lịch 1 Toyota Corolla Altis 6.406 (3,5Q) 5 Kia Forte/Cerato 2.569 446 – 619 Nguồn: VAMA Bên cạnh đó, phân khúc xe hạng sang cũng ngày càng được giới có thu nhập cao ưa chuộng, như : 1 BMW Lamboghini Hình 1. 1: Các loại xe hạng sang đang được ưa chuộng hiện nay Nguồn: www.vn Theo thống kê, trong năm 2007 Việt Nam có tới 5 chiếc Phantom được nhập về trong khi tại Thái Lan không có chiếc xe nào còn Philipine có 2 chiếc. Đến tháng 7/2008 tại Việt Nam hiện đã có 15 xe Rolls-Royce Phantom, hơn 20 chiếc Bentley và BMW X6 xuất hiện ở thị trường Mỹ cuối tháng 4/2008 thì đầu tháng 7/2008 đã có ở Việt Nam tới 7 chiếc.
Tự do lưu thông hàng hóa khi gia nhập WTO Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải tham gia một loạt các cam kết quốc tế, trong đó không ngoại trừ cam kết mở cửa cho ô tô nhập khẩu xâm nhập vào thị trường nội địa thông qua một loạt các chính sách như: cắt giảm thuế nhập khẩu, cho phép nhập khẩu ô tô cũ, bãi bỏ các chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước. Do đó, cạnh tranh trong ngành này được dự báo sẽ gay gắt hơn (cả về chủng loại, chất lượng và giá…) dẫn đến việc nhập khẩu ô tô sẽ giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn về chủng loại, chất lượng và giả cả. Tuy nhiên, điều này sẽ không đến ngay lập tức do lộ trình mở cửa ngành này tương đối dài. Không chỉ cam kết giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong khuôn khổ WTO, Việt Nam còn tham gia các cam kết tự do hóa thương mại khu vực, mà theo đó, mức cắt giảm còn lớn hơn so với cam kết WTO, bao gồm: Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (CEPT/AFTA): Các loại xe ô tô chở người 10 chỗ trở lên và xe tải đều đã được cắt giảm xuống mức 5% từ năm 2006.
Riêng loại xe chở người 9 chỗ ngồi trở xuống sẽ giảm xuống 0% vào năm 2018. Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA): Đối với xe chở người theo lộ trình cắt giảm xuống mức 50% năm 2018. Xe được thiết kế đặc biệt (đi trên tuyết, xe chơi gôn) đã được cắt giảm xuống 50% vào năm 2006. Xe tải dưới 5 tấn sẽ được cắt giảm xuống 45% năm 2014.
Xe tải từ 5 đến 10 tấn sẽ cắt giảm xuống 30% năm 2012. Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA): Hầu hết các loại xe ô tô được đưa vào danh mục không phải giảm thuế.