Tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành công nghiệp ô tô việt nam luận văn ths kinh tế 60, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2011

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

1.1. Cơ sở lý luận của hoạt động nhập khẩu

1.1.1. Khái niệm nhập khẩu

1.1.2. Vai trò, tác động của nhập khẩu hàng hóa tới đời sống kinh tế xã hội và tới ngành sản xuất trong nước

1.2. Các yếu tố tác động đến nhập khẩu ô tô

1.2.1. Sự thay đổi trong mức thu nhập và thị hiếu người tiêu dùng

1.2.2. Tự do lưu thông hàng hóa khi gia nhập WTO

1.2.3. Chính sách bảo hộ cao đối với ngành công nghiệp ô tô trong nước

1.2.4. Sự cần thiết của hoạt động nhập khẩu ô tô

1.3. Kinh nghiệm nhập khẩu ô tô của một số quốc gia

2. CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH, THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ CỦA VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG TỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM

2.1. Chính sách nhập khẩu ô tô của Việt Nam

2.1.1. Hàng rào thuế quan

2.1.2. Hàng rào phi thuế quan

2.1.3. Hàng rào kỹ thuật

2.1.4. Thủ tục hành chính quản lý ô tô nhập khẩu

2.2. Thực trạng hoạt động nhập khẩu ô tô của Việt Nam

2.2.1. Quy mô nhập khẩu

2.2.2. Cơ cấu nhập khẩu

2.2.3. Cơ cấu thị trường nhập khẩu

2.3. Tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam

2.3.1. Tổng quan ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

2.3.2. Vị trí ngành ô tô Việt Nam trong khu vực và trên thế giới

2.3.3. Quy mô ngành

2.3.4. Năng lực sản xuất

2.3.5. Tác động của hoạt động nhập khẩu ô tô tới ngành

2.3.5.1. Đối với cơ cấu ngành
2.3.5.2. Đối với trình độ công nghệ của ngành
2.3.5.3. Đối với tỷ lệ nội địa hóa
2.3.5.4. Đối với cung cầu thị trường ô tô
2.3.5.5. Đối với các ngành công nghiệp phụ trợ
2.3.5.6. Đối với lao động trong ngành
2.3.5.7. Đối với vấn đề môi trường
2.3.5.8. Đối với cơ sở hạ tầng

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM KHẮC PHỤC TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM

3.1. Dự báo nhu cầu ô tô của Việt Nam trong thời gian tới

3.2. Một số kiến nghị nhằm khắc phục những vấn đề tồn tại trong hoạt động nhập khẩu ô tô và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành

3.2.1. Đề xuất với Chính phủ

3.2.1.1. Tạo thị trường để các hãng ô tô mạnh dạn đầu tư
3.2.1.2. Khuyến khích thật sự công nghệ sản xuất linh kiện
3.2.1.3. Tăng cường hàng rào kỹ thuật với ô tô
3.2.1.4. Chấn chỉnh công tác quản lý nội bộ ngành
3.2.1.5. Sớm hoàn thiện và ban hành dự thảo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030
3.2.1.6. Thay đổi quan điểm về cách hiểu “ngành công nghiệp ô tô Việt Nam”

3.2.2. Đề xuất dòng xe chiến lược

3.2.3. Xây dựng và phát triển công nghiệp phụ trợ ô tô

3.2.4. Định vị Việt Nam trong mạng lưới sản xuất ngành công nghiệp ô tô khu vực ASEAN và Đông Á

3.2.5. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông

3.2.6. Đề xuất với doanh nghiệp nhập khẩu

3.2.6.1. Nghiêm chỉnh trong khai báo
3.2.6.2. Tăng cường sự hiểu biết về kỹ thuật và thủ tục
3.2.6.3. Nhập xe chất lượng tốt
3.2.6.4. Liên kết thành một khối thống nhất

3.2.7. Đề xuất với các doanh nghiệp trong ngành

3.2.7.1. Có kế hoạch nghiên cứu thị trường một cách nghiêm túc và tỷ mỷ
3.2.7.2. Đầu tư dây chuyền công nghệ để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh
3.2.7.3. Tăng cường công tác quảng cáo nhằm đẩy mạnh khối lượng sản phẩm tiêu thụ
3.2.7.4. Có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của nhập khẩu ô tô đến ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

Nhập khẩu ô tô đã trở thành một phần quan trọng trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Sự gia tăng nhập khẩu không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn tạo ra những thách thức và cơ hội cho các nhà sản xuất trong nước. Việc nhập khẩu ô tô giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn về mẫu mã và chất lượng, đồng thời cũng tạo ra áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra câu hỏi về khả năng cạnh tranh và sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.

1.1. Tác động kinh tế của nhập khẩu ô tô đến ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

Nhập khẩu ô tô ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế thông qua việc tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại. Điều này thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm giá thành để thu hút người tiêu dùng.

1.2. Xu hướng nhập khẩu ô tô và sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô

Xu hướng nhập khẩu ô tô đang gia tăng, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO. Điều này không chỉ tạo ra cơ hội cho người tiêu dùng mà còn đặt ra thách thức cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh.

II. Vấn đề và thách thức trong hoạt động nhập khẩu ô tô tại Việt Nam

Hoạt động nhập khẩu ô tô tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức. Các chính sách bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến việc các doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với ô tô nhập khẩu. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt linh kiện và phụ tùng sản xuất trong nước cũng là một yếu tố cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô.

2.1. Chính sách nhập khẩu ô tô và tác động đến ngành công nghiệp ô tô

Chính sách nhập khẩu ô tô hiện tại chưa đủ mạnh để bảo vệ ngành công nghiệp ô tô trong nước. Việc tăng thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc không đủ để tạo ra sự cạnh tranh công bằng giữa hàng nội và hàng ngoại.

2.2. Cạnh tranh trong ngành công nghiệp ô tô và ảnh hưởng đến người tiêu dùng

Cạnh tranh giữa ô tô nhập khẩu và ô tô sản xuất trong nước đang diễn ra gay gắt. Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, nhưng giá cả và chất lượng vẫn là vấn đề lớn mà họ phải đối mặt.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề trong hoạt động nhập khẩu ô tô

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, cần có những phương pháp giải quyết vấn đề trong hoạt động nhập khẩu ô tô. Các giải pháp này bao gồm việc cải thiện chính sách nhập khẩu, tăng cường sản xuất linh kiện trong nước và nâng cao chất lượng sản phẩm.

3.1. Cải thiện chính sách nhập khẩu ô tô để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước

Cần xem xét lại các chính sách thuế và quy định nhập khẩu ô tô để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước, đồng thời vẫn đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.

3.2. Đầu tư vào công nghệ sản xuất ô tô và linh kiện

Đầu tư vào công nghệ sản xuất ô tô và linh kiện là cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm giá thành. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh tốt hơn với ô tô nhập khẩu.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nhập khẩu ô tô

Nghiên cứu về tác động của nhập khẩu ô tô đến ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã chỉ ra rằng việc nhập khẩu không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn đến thị trường tiêu dùng. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam cần phải thay đổi để thích ứng với xu hướng toàn cầu.

4.1. Kết quả nghiên cứu về tác động của nhập khẩu ô tô đến sản xuất

Nghiên cứu cho thấy rằng nhập khẩu ô tô đã tạo ra áp lực cạnh tranh lớn cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước, buộc họ phải cải thiện chất lượng và giảm giá thành sản phẩm.

4.2. Ứng dụng thực tiễn từ các quốc gia khác trong ngành công nghiệp ô tô

Các quốc gia có ngành công nghiệp ô tô phát triển đã áp dụng nhiều chính sách hiệu quả để quản lý hoạt động nhập khẩu ô tô. Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm này để cải thiện tình hình hiện tại.

V. Kết luận và tương lai của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Để phát triển bền vững, cần có những chính sách hợp lý và sự đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ sản xuất. Tương lai của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng với xu hướng toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh.

5.1. Tương lai của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam cần phải chuẩn bị cho sự hội nhập sâu rộng hơn với thị trường quốc tế, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững.

5.2. Đề xuất giải pháp cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp ô tô

Cần có những giải pháp cụ thể để phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, bao gồm việc cải thiện chính sách, đầu tư vào công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cung cầu, chính sách và thực trạng nhập nhẩu ô tô của một số quốc gia trên thế giới. - Chương 2: Chính sách, thực trạng hoạt động nhập khẩu ô tô của Việt Nam và tác động tới ngành công nghiệp ô tô Việt Nam - Chương 3: Định hướng phát triển và một số kiến nghị nhằm khắc phục tồn tại trong hoạt động nhập khẩu ô tô và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 8 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Cơ sở lý luận của hoạt động nhập khẩu 1. Khái niệm nhập khẩu Xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế.

Nó không phải là những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân. Do đó xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh tế đối ngoại dễ đem lại những hiệu quả đột biến rất cao, hoặc có thể gây thiệt hại vì nó phải đương đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể tham gia nhập khẩu không dễ dàng khống chế được. Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương. Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước.

Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là để nhập về hàng hoá mà nếu sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển nền kinh tế trong nước, trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố sản xuất: Công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động đóng vai trò quan trọng nhất. Vai trò, tác động của nhập khẩu hàng hóa tới đời sống kinh tế xã hội và tới ngành sản xuất trong nước Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay của nước ta vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau: - Đối với ngành sản xuất trong nước  Nhập khẩu cũng tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại tức là tạo ra động lực buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, thúc đẩy sản xuất trong nước.

Tính cạnh tranh này được thể hiện qua giá cả hàng hóa, mẫu mã chủng loại cũng như chất lượng của hàng hóa. Những yếu tố đó sẽ được người tiêu dùng cân nhắc so sánh để lựa chọn tiêu dùng hàng nội hay hàng ngoại nhập.  Đối với trình độ công nghệ của ngành: Nhập khẩu giúp tăng cường sự chuyển giao công nghệ, tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm được chi phí và thời gian, giúp cho các doanh nghiệp trong ngành tiếp thu được trình độ công nghệ tiên tiến từ nước ngoài và áp dụng để phát triển sản xuất trong nước.  Đối với lao động trong ngành: tác động của nhập khẩu đối với lao động trong ngành sản xuất trong nước được thể hiện theo 2 chiều: giúp tăng tỷ lệ lao động có tay nghề, trình độ và giảm bớt lao động giản đơn.

- Đối với đời sống xã hội  Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá đất nước.  Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối và ổn định. 1  Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.

 Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài.  Nhập khẩu tăng khả năng tiêu dùng, đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, qui cách, cho phép thoả mãn tốt hơn nhu cầu trong nước. Các yếu tố tác động đến nhập khẩu ô tô 1. Sự thay đổi trong mức thu nhập và thị hiếu người tiêu dùng Trong thời gian đầu phát triển kinh tế, thu nhập của người dân Việt Nam còn thấp, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, do đó vai trò của ô tô thời gian này chỉ đơn thuần là một phương tiện vận tải, và ngành sản xuất ô tô cũng chỉ dừng lại ở mức lắp ráp đơn giản.

Nhưng trước tốc độ phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế, thu nhập người dân ngày càng tăng cao, đời sống người tiêu dùng Việt Nam cũng ngày càng được cải thiện, thì mỗi người đều muốn sở hữu một chiếc ô tô cho riêng mình, vừa để đáp ứng nhu cầu đi lại, vừa là một cách để thể hiện cá tính riêng. Do đó, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng xe nhập ngoại là điều tất yếu. Một mặt do các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu ngày một khó tính của khách hàng, về mẫu mã và độ bền của sản phẩm. Thứ hai là do nhiều dòng xe nhập ngoại vốn đã nổi tiếng từ lâu trên thị trường thế giới về kiểu dáng đa dạng phong phú và chất lượng cao.

Đặc biệt trong năm 2010, các dòng xe Hàn Quốc nhập khẩu bùng nổ trên thị trường Việt Nam. Các model xe mới nhất của Huyndai, Kia với kiểu dáng thời trang, tiện nghi đầy đủ và giá thành hợp lý đã thổi cơn gió mới vào tâm lý và thói quen mua ô tô đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam. Với người tiêu dùng ngày nay, đặc biệt là giới trẻ, xe hơi là phương tiện giao thông cao cấp, chứ không phải là tài sản cả cuộc đời như trước 1 đây. Do nhu cầu công việc, cộng thêm mong muốn thể hiện mình, họ chọn lựa những mẫu xe hợp với khả năng tài chính trong thời điểm hiện tại và lên kế hoạch đổi xe mới trong vài năm tới.

Và xe nhập khẩu từ Hàn Quốc đã đáp ứng được nhu cầu đó. Mặc dù có nhiều dòng xe của Hàn Quốc, Nhật. cũng đã được liên doanh lắp ráp tại Việt Nam, tuy nhiên các dòng xe nhập khẩu nguyên chiếc vẫn được yêu thích hơn cả. Bởi xe nội không nhiều mẫu mã thời trang như xe nhập Hàn Quốc, không bền bỉ như xe Nhật, không phong cách mạnh mẽ như xe Mỹ, không đẳng cấp tiện nghi được như xe Đức.

Đó chính là lý do nhiều người tiêu dùng vẫn chuộng các dòng xe nhập ngoại hơn. Tại Việt Nam hiện nay, các dòng xe đa dụng gia đình/xe việt dã (MPV/SUV) là dòng xe bán chạy nhất, tổng doanh số bán ra năm 2010 đạt hơn 33 nghìn xe (trung bình gần 3.000 xe/tháng). Tiếp đến là dòng xe du lịch với doanh số 24 nghìn xe. 1: Doanh số các dòng xe phân theo khu vực địa lý Nguồn: VAMA Do thu nhập của người Việt Nam còn tương đối thấp, và được xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình (1.200 USD/năm), nên dòng xe có giá từ 200 – 700 1 USD được ưa chuộng nhất.

Trong đó, dòng xe Toyota Innova đạt doanh số bán cao nhất trong nước. 1: Xếp hạng 5 mẫu xe MPV/SUV và 5 mẫu xe du lịch bán chạy nhất năm 2010 Giá tham khảo STT Mẫu xe Doanh số (chiếc) (triệu đồng) Xe MPV/SUV 1 Toyota Innova 7.007 Xe du lịch 1 Toyota Corolla Altis 6.406 (3,5Q) 5 Kia Forte/Cerato 2.569 446 – 619 Nguồn: VAMA Bên cạnh đó, phân khúc xe hạng sang cũng ngày càng được giới có thu nhập cao ưa chuộng, như : 1 BMW Lamboghini Hình 1. 1: Các loại xe hạng sang đang được ưa chuộng hiện nay Nguồn: www.vn Theo thống kê, trong năm 2007 Việt Nam có tới 5 chiếc Phantom được nhập về trong khi tại Thái Lan không có chiếc xe nào còn Philipine có 2 chiếc. Đến tháng 7/2008 tại Việt Nam hiện đã có 15 xe Rolls-Royce Phantom, hơn 20 chiếc Bentley và BMW X6 xuất hiện ở thị trường Mỹ cuối tháng 4/2008 thì đầu tháng 7/2008 đã có ở Việt Nam tới 7 chiếc.

Tự do lưu thông hàng hóa khi gia nhập WTO Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải tham gia một loạt các cam kết quốc tế, trong đó không ngoại trừ cam kết mở cửa cho ô tô nhập khẩu xâm nhập vào thị trường nội địa thông qua một loạt các chính sách như: cắt giảm thuế nhập khẩu, cho phép nhập khẩu ô tô cũ, bãi bỏ các chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước. Do đó, cạnh tranh trong ngành này được dự báo sẽ gay gắt hơn (cả về chủng loại, chất lượng và giá…) dẫn đến việc nhập khẩu ô tô sẽ giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn về chủng loại, chất lượng và giả cả. Tuy nhiên, điều này sẽ không đến ngay lập tức do lộ trình mở cửa ngành này tương đối dài. Không chỉ cam kết giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong khuôn khổ WTO, Việt Nam còn tham gia các cam kết tự do hóa thương mại khu vực, mà theo đó, mức cắt giảm còn lớn hơn so với cam kết WTO, bao gồm: Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (CEPT/AFTA): Các loại xe ô tô chở người 10 chỗ trở lên và xe tải đều đã được cắt giảm xuống mức 5% từ năm 2006.

Riêng loại xe chở người 9 chỗ ngồi trở xuống sẽ giảm xuống 0% vào năm 2018. Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA): Đối với xe chở người theo lộ trình cắt giảm xuống mức 50% năm 2018. Xe được thiết kế đặc biệt (đi trên tuyết, xe chơi gôn) đã được cắt giảm xuống 50% vào năm 2006. Xe tải dưới 5 tấn sẽ được cắt giảm xuống 45% năm 2014.

Xe tải từ 5 đến 10 tấn sẽ cắt giảm xuống 30% năm 2012. Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA): Hầu hết các loại xe ô tô được đưa vào danh mục không phải giảm thuế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ