lời mở đầu, mục lục, các danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, từ viết tắt, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận tốt nghiệp gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu 13 Chƣơng 2: Cơ sở lý luận của tác động từ môi trƣờng kinh doanh ảnh hƣởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Chƣơng 3: Thực trạng tác động từ môi trƣờng kinh doanh ảnh hƣởng đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ thị trƣờng Mỹ của công ty. Chƣơng 4: Định hƣớng phát triển và đề xuất dựa trên tác động từ môi trƣờng kinh doanh ảnh hƣởng đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ thị trƣờng Mỹ của công ty. 14 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÁC ĐỘNG TỪ MÔI TRƢỜNG KINH DOANH ẢNH HƢỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU DẦU BÔI TRƠN 2. Khái quát về hoạt động nhập khẩu.
Khái niệm và vai trò của nhập khẩu Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đƣợc đƣa vào Việt Nam từ nƣớc ngoài hoặc từ khu vực năm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Sản xuất và phân công lao động lao động xã hội phát triển đã dẫn đến sự chuyên môn hóa sản xuất từ đó tạo ra lợi thế so sánh cho từng quốc gia, từ đó, sinh ra hoạt động xuất - nhập khẩu. Khi các quốc gia chuyên môn hóa sản xuất tức là quốc gia đó sẽ tập trung vào sản xuất những loại hàng hóa mà quốc gia có lợi thế hơn so với việc sản xuất những loại hàng hóa khác. Lợi thế ở đây thƣờng là lợi thế về nhân công, nguyên vật liệu, các điều kiện tự nhiên, tài nguyên,.
Một quốc gia không thể đáp ứng đƣợc tất cả các nhu cầu trong nƣớc, hoặc có thể với một chi phi đắt đỏ, vì thế trong nền kinh tế thị trƣờng, buộc các quốc gia phải tham gia vào hoạt động nhập khẩu. Nhập khẩu giúp các quốc gia bổ sung hàng hóa mà quốc gia đó không đủ để đáp ứng nhu cầu, các loại hàng hóa mà quốc gia không sản xuất đƣợc hoặc các loại hàng hóa mà nêu tự sản xuất sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Vì thế mà nhập khẩu đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngoại thƣơng và nhập khẩu nếu đƣợc thực hiện tốt sẽ giúp cân đối nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp trong nƣớc, nhập khẩu thúc đẩy sản xuất.
Khi có sự gia nhập của hàng hóa quốc tế với chất lƣợng tốt, đa dạng buộc các doanh nghiệp trong nƣớc phải nâng cao năng lực sản xuất về giá cả, chất lƣợng,. thì mới có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Nhập khẩu đem lại sự chuyển giao công nghệ, 15 giúp các doanh nghiệp năm bắt cơ hội này để áp dụng vào hoạt động sản xuất của mình. Đối với nền kinh tế, nhập khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nƣớc.
Nhập khẩu không chỉ cung cấp nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nƣớc mà nhập khẩu còn bổ sung hàng hóa mà quốc không thể sản xuất đủ để đáp ứng nhu cầu trong nƣớc. Hình thức nhập khẩu Theo luật thương mại Việt Nam 2005: - Nhập khẩu tiểu ngạch: Hình thức này rất đƣợc ƣa chuộng bởi thủ tục đơn giản, chi phí thấp. Đó là hoạt động trao đổi mua bán của những ngƣời dân sinh sống gần đƣờng biên giới giữa hai nƣớc có biên giới liền kề. - Nhập khẩu chính ngạch: Cũng là hình thức nhập khẩu hàng từ các nƣớc liên kế.
Nhƣng nhập khẩu chính ngạch sẽ có quy mô lớn hơn, hàng đƣợc nhập qua các cửa khẩu với chế độ kiểm duyệt kỹ lƣỡng về chất lƣợng, an toàn vệ sinh,.mức thuế phí cao hơn nhiều so với tiêu ngạch và phải đóng đầy đủ trƣớc khi thông quan. - Phân loại nhập khẩu : Nhập khẩu trực tiếp: bên mua và bên bán sẽ trực tiếp ký kết hợp đồng với nhau. Các điều khoản và quyền lợi trong hợp đồng thƣơng mại do hai bên tự thống nhất, không bị ràng buộc bởi một đơn vị trung gian nào, đƣợc sử dụng khá phổ biến bởi cách thức đơn giản, nhanh chóng. Nhập khẩu ủy thác: không chi có sự tham gia của bên mua và bên bán mà còn có một bên thứ 3 (đơn vị trung gian).
Hình thức này đƣợc sử dụng khi ngƣời mua hàng thuê một đơn vị khác (ủy thác) đứng ra thay họ nhập khẩu hàng hóa. 16 Buôn bán đối lƣu (hay còn gọi là nhập khẩu hàng đổi hàng) đƣợc thực hiện song song với hoạt động xuất khẩu. Hinh thức này không dùng tiền tệ mà dùng hàng hóa làm phƣơng tiện trao đổi. Hàng hóa dùng để nhập - xuất có giá trị tƣơng dƣơng.
Tạm nhập tái xuất: là hình thức hàng hóa đƣợc đƣa vào Việt Nam nhƣng không để tiêu thụ mà để xuất sang nƣớc thứ 3 nhằm thu lợi nhuận. Hoạt động này bao gồm cả xuất khẩu và nhập khẩu, mục đích là để thu ngoại tệ. Nhập khẩu gia công: bên nhận gia công sẽ nhập nguyên liệu từ bên xuất khẩu về để sản xuất theo yêu cầu của hợp đồng giữa hai bên. Xét về tính chất, hình thức nhập khẩu gia công và xuất khẩu gia công giống nhau.
Mục đích đều là gia công theo yêu cầu của các nƣớc khác, 2. Khái quát về môi trƣờng kinh doanh. Khái niệm môi trường kinh doanh Theo giáo trình Kinh doanh quốc tế - Đại học Thương Mại: Môi trƣờng kinh doanh: Môi trƣờng kinh doanh là tổng thể các yếu tố, các nhân tố (bên ngoài và bên trong) vận động tƣơng tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trƣờng kinh doanh là giới hạn không gian mà ở đó doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Môi trƣờng kinh doanh quốc tế: Là sự tác động qua lại giữa các yếu tố môi trƣờng quốc gia với môi trƣờng nƣớc ngoài và giữa các yếu tố môi trƣờng nƣớc ngoài của hai quốc gia khi một công ty hoạt động tại quốc gia này hoạt động kinh doanh với khách hàng của quốc gia khác. Theo giáo trình Kinh doanh quốc tế - Đại học Thương Mại, yếu tố bên ngoài doanh nghiệp bao gồm yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, các yếu tố khác nhƣ sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, các 17 thỏa thuận song phƣơng và đa phƣơng giữa các quốc gia và khu vực, các quy định của các tổ chức quốc tế. Môi trường vĩ mô + Kinh tế: Sự hƣng thịnh của một doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện kinh tế. Nền kinh tế thế giới, khu vực và trong nƣớc đang ở đà phát triển với tốc độ cao sẽ kéo doanh nghiệp vào vòng phát triển, ngƣợc lại, khi nền kinh tế ở giai đoạn phát triển chậm chạp sẽ tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi doanh nghiệp hoạt động trong đó.
Đây là một yếu tố quan trọng thu hút sự quan tâm của các nhà quản trị. Sự tác động của các yếu tố môi trƣờng này có tính chất trực tiếp và năng động hơn so với một số yếu tố khác của môi trƣờng tổng quát. +Chính trị và pháp lý: Nhà quản trị phải lƣu ý tới các yếu tố chính trị và pháp lý nhằm tiên đoán những thay đổi quan trọng về chính trị trong nƣớc, khu vực và trên thế giới để có những quyết sách đúng đắn trong kinh doanh. Chúng ta có thể xem xét một số khía cạnh ảnh hƣởng của môi trƣờng chính trị đến hoạt động của doanh nghiệp.
Sự ổn định chính trị có ảnh hƣởng rất lớn đến các doanh nghiệp, vì rủi ro do môi trƣờng chính trị là rất lớn. Khi chính phủ thay thế nhau có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể về chính sách kinh tế, nhƣ chính phủ có thể quốc hữu hóa, tịch thu tài sản, ngăn cấm di chuyển ngoại tệ hoặc can thiệp vào chính sách tài chính tiền tệ. +Văn hóa - xā hội: Văn hóa xã hội ảnh hƣởng nhiều tới thói quen tiêu dùng, cách thức ứng xử, sở thích của khách hàng cũng nhƣ giúp tạo nên văn hóa bên trong của doanh nghiệp và ảnh hƣởng tới cách thức doanh nghiệp cƣ xử, giao tiếp với bên ngoài. Các yếu tố văn hóa xã hội tác động lên tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp và cách doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Để đánh giá môi trƣờng kinh doanh của doanh nghiệp thi các yếu tố của môi trƣờng văn hóa xã hội cần xem xét gồm: Tăng trƣởng dân số - Cơ cấu độ tuổi - Di dân và 18 nguồn lao động - Bình đẳng giới - Phân phối thu nhập - Sức khỏe - Nghề nghiệp - Trình độ học vấn chung - An sinh xã hội. + Yếu tố tự nhiên: Môi trƣờng tự nhiên gồm các yếu tố tự xung quanh con ngƣời, ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống của con ngƣời nhƣ vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, thời tiết hay thiên tai, dịch bệnh. Không quốc gia nào trên thế giới có môi trƣờng tự nhiên giống nhau. Sự khác biệt về môi trƣờng tự nhiên phần nào ảnh hƣởng và tạo ra sự khác biệt cho các yếu tố khác nhự văn hóa, kinh tế.
của các quốc gia. +Các yếu tố khác: ngoài các yếu tố kể trên, môi trƣờng bên ngoài doanh nghiệp còn có thể cấu thành từ một số yếu tố khác nhƣ nhân khẩu học, công nghệ, cạnh tranh,. Yếu tố bên trong doanh nghiệp: +Tình hình tài chính của công ty: Công ty nên thƣờng xuyên xem xét, kiểm tra, đối chiếu so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Từ đó có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ những rủi ro về tài chính trong tƣơng lai của công ty.
+ Nguồn nhân lực của công ty: bao gồm tất cả những ngƣời đã và đang làm việc tại công ty ở tất cả các vị trí khác nhau. Có thể nói, đây là nguồn chính quyết định đến lợi nhuận và sự phát triển của công ty. + Các yếu tố khác: Ngoài nhân lực và vốn, môi trƣờng bên trong DN còn đƣợc cấu thành bởi một số yếu tố khác nhƣ văn hóa doanh nghiệp hay quản trị doanh nghiệp. Khái quát về mặt hàng dầu bôi trơn.
a, Khái niệm Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, dầu bôi trơn là loại dầu đƣợc dùng để bôi trơn hệ thống máy móc, dầu bôi trơn còn có những tên gọi trong ngành khác nhƣ dầu nhờn, dấu nhớt.