mở đầu là nghiên cứu của Leonard Berry, tập trung đề cập đến việc tạo động lực và làm cho nhân viên cảm thấy hài lòng, theo marketing nội bộ được định nghĩa như sau: “…một chiến lược và chương trình marketing dựa trên việc kết nối, truyền thông với đội ngũ nhân viên giúp cho nhân viên phát huy được tiềm năng và tạo động lực bằng cách trả thù lao cho họ tương xứng với chất lượng dịch vụ cung cấp” (Berry và cộng sự, 1976, tr. 8) 12 “Xem nhân viên như là những khách hàng nội bộ, xem công việc như là những sản phẩm nội bộ mà qua đó có thể thỏa mãn được nhu cầu và mong muốn của những khách hàng nội bộ đồng thời giải quyết được những mục tiêu của tổ chức” (Berry, 1981, tr.25) Nguyên nhân giải thích cho quan điểm nêu trên là con người và sản phẩm (dịch vụ) là hai yếu tố không thể tách rời, đặc biệt trong những lĩnh vực dịch vụ đòi hỏi sự giao tiếp thường xuyên giữa khách hàng và nhân viên, ví dụ như du lịch, bệnh viện, bán lẻ, tài chính - ngân hàng, giáo dục. Như vậy, giả thuyết được đặt ra là tầm quan trọng của sự hài lòng của nhân viên chính là tham số quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Ủng hộ quan điểm nêu trên, nhóm tác giả Berry và Parasuraman cho rằng marketing nội bộ nên tập trung vào sự hài lòng của nhân viên, do đó nó nên được định nghĩa như sau: “Marketing nội bộ đang thu hút, phát triển, khuyến khích và giữ chân nhân viên có năng lực thông qua các sản phẩm công việc mà thỏa mãn được những nhu cầu của nhân viên.
Marketing nội bộ là triết lý coi nhân viên như khách hàng… và đó là chiến lược định hình sản phẩm công việc để phù hợp nhu cầu của con người” (Berry và Parasuraman, 1991, tr. Theo quan điểm của Woodruffe (1995), marketing nội bộ có thể hiểu là chiến lược thỏa mãn được nhu cầu của thị trường nội bộ hay nhu cầu của đội ngũ nhân viên và thị trường bên ngoài thông qua các chương trình và kế hoạch để đạt được các mục tiêu mong muốn của tổ chức bằng cách đem lại sự hài lòng cho cả nhân viên và khách hàng. Barnes và Morris (2000) và Bansal và cộng sự (2001) cũng cho rằng, marketing nội bộ có khả năng cải thiện sự cam kết với tổ chức, sự hài lòng và khi nhân viên cảm thấy hài lòng thì họ sẽ có thái độ làm việc tích cực khi phục vụ khách hàng, từ đó cải thiện sự trung thành của khách hàng. Nhóm tác giả Clow và Kurtz (2004) đưa ra định nghĩa về marketing nội bộ là quá trình sử dụng các khái niệm marketing để cải thiện sự hài lòng của đội ngũ người lao động trong công ty được gọi là marketing nội bộ.
Theo quan điểm của Chowdhary và Chowdhary (2005) thì marketing nội bộ tham gia vào việc bán các khái niệm dịch vụ cho những khách hàng nội bộ trước khi nó được bán ra thị trường bên ngoài, như vậy nhân viên của tổ chức là thị trường đầu tiên mà tổ chức phải quan tâm. Một số nhà khoa học như Sasser và Arbeit (1976) và De Bussy và cộng sự (2003) đã lập luận rằng khái niệm marketing nội bộ không chỉ giới hạn áp dụng đối với những nhân viên tuyến đầu mà nó còn áp dụng cho cả những nhân viên không có sự tương tác trực tiếp với khách hàng bởi vì những nhân viên này có thể tác động đến sự cảm nhận chất lượng dịch vụ thông qua việc ảnh hưởng trực tiếp đến những người cung 13 cấp dịch vụ. Nếu tất cả nhân viên đều làm tốt công việc của mình điều đó có nghĩa là tất cả nhân viên đều có đóng góp giá trị tăng thêm vào những dịch vụ và sản phẩm chào bán ra thị trường. Giai đoạn thứ hai tập trung vào định hướng khách hàng.
Trong giai đoạn này marketing nội bộ chịu ảnh hưởng lớn bởi nghiên cứu của Grönroos (1981). Nhằm bổ sung thêm cho định nghĩa của Leonard Berry về marketing nội bộ, Grönroos cho rằng để cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng và sự hứng thú đối với các hoạt động marketing của đội ngũ nhân viên bán hàng và nhân viên không thuộc bộ phận marketing, khái niệm marketing nội bộ cần được định nghĩa là “một triết lý cũng như là một công cụ chiến lược quản lý dài hạn và ngắn hạn” (Grönroos, 1985). Nghiên cứu nêu trên đã mở rộng định nghĩa cơ bản về marketing nội bộ như là một phương pháp để khuyến khích nhân viên có ý thức về khách hàng, định hướng thị trường, quan tâm đến việc bán hàng, và đồng thời sử dụng các hoạt động giống như marketing để thực hiện việc này. Tác giả này cho rằng, bằng cách áp dụng các hoạt động mang tính chất marketing vào thị trường nội bộ thì đội ngũ nhân viên sẽ được tác động một cách hiệu quả nhất và do đó thúc đẩy đội ngũ này có ý thức về khách hàng, định hướng thị trường, và quan tâm đến việc bán hàng.
Tác giả George (1990) cũng thể hiện quan điểm ủng hộ với đề xuất của Grönroos (1981) về việc cần thiết áp dụng các chiến lược, công cụ và hoạt động marketing đối ngoại vào thị trường nội bộ nhằm mục đích tạo động lực và thay đổi hành vi định hướng khách hàng cho đội ngũ nhân viên. Cách tiếp cận marketing nội bộ ở giai đoạn thứ hai có điểm khác biệt so với quan điểm của giai đoạn thứ nhất ở chỗ không chỉ coi nhân viên là khách hàng nội bộ và làm họ hài lòng mà cần phải tạo ra định hướng khách hàng cho nhân viên thông qua quá trình ảnh hưởng của các hoạt động marketing nội bộ. Giai đoạn thứ ba tập trung nghiên cứu vai trò của marketing nội bộ như là một phương thức để triển khai chiến lược và quản trị sự thay đổi. Theo tinh thần này, marketing nội bộ được quan niệm là: (1) chiến lược quản lý nhân viên nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức (Winter, 1985); (2) chiến lược quản trị tổng thể thông qua việc tích hợp chức năng giữa các bộ phận trong một tổ chức và mỗi cá nhân sẽ trở thành nguồn lực cho bộ phận marketing của tổ chức (Glassman và McAfee, 1992; George, 1990); (3) có thể áp dụng các công cụ và kỹ thuật của marketing đối ngoại vào môi trường nội bộ (Piercy và Morgan, 1991).
Giai đoạn phát triển này nhấn mạnh vào quan điểm chiến lược marketing nội bộ chỉ được triển khai một cách hiệu quả khi giải quyết được các xung đột nội bộ giữa các phòng ban và cần phải hoàn thiện các kênh thông tin nội bộ. Marketing nội bộ được xem là một thể chế để tinh giảm bộ máy tổ chức, giảm xung đột giữa các bộ phận, và quản trị sự thay đổi (Harrell và Fors, 1992). Marketing nội bộ còn 14 được định nghĩa là chiến lược phát triển mối quan hệ giữa đội ngũ nhân viên trong nội bộ của một doanh nghiệp/tổ chức. Khi áp dụng chiến lược marketing nội bộ, nhân viên có những quyền tự chủ nhất định và họ biết cách sáng tạo trong việc đưa ra các quy trình tạo nên kiến thức, từ đó giải quyết được những thách thức phát sinh từ sự thay đổi (Ballantyne, 2000).
Tóm lại, các nghiên cứu trong giai đoạn thứ ba đã mở rộng khái niệm về marketing nội bộ không chỉ tập trung vào việc tạo động lực cho đội ngũ nhân viên (liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với khách hàng) để đội ngũ này luôn hướng tới khách hàng bên ngoài mà còn hướng tới quá trình quản trị sự thay đổi và quá trình tích hợp khi triển khai công việc giữa các bộ phận khác nhau. Ủng hộ các quan điểm nêu trên, nhóm tác giả Rafiq và Ahmed (1998, 2002) đã định nghĩa marketing nội bộ là một nỗ lực có kế hoạch sử dụng phương pháp tiếp cận và triết lý giống như marketing để có thể giải quyết sự phản kháng của tổ chức trước những thay đổi, đồng thời sắp xếp, thúc đẩy, liên kết các bộ phận chức năng và tích hợp nhân viên để triển khai chiến lược cấp độ đơn vị và cấp độ doanh nghiệp một cách hiệu quả nhằm mục đích mang lại sự hài lòng cho khách hàng thông qua một quá trình tạo ra động lực và định hướng khách hàng đối với đội ngũ nhân viên. Ngoài những định nghĩa đã nêu ở trên, nhiều tác giả cũng đã đưa ra định nghĩa và khái niệm về marketing nội bộ từ những góc nhìn khác nhau (Phụ lục 1). Tuy đa dạng nhưng các định nghĩa về marketing nội bộ có khá nhiều điểm tương đồng và cung cấp những hiểu biết cụ thể, giúp cho việc vận hành và áp dụng marketing nội bộ vào đời sống thực của các doanh nghiệp/tổ chức được thuận tiện và khả thi.
Một số tác giả với định nghĩa điển hình về marketing nội bộ có thể kể đến là: (1) Kotler (2003) đã đưa ra định nghĩa về marketing nội bộ là “tuyển dụng, huấn luyện, và động viên có kết quả những nhân viên có năng lực, muốn phục vụ khách hàng chu đáo hay marketing nội bộ mô tả việc mà công ty đã làm nhằm huấn luyện và động viên nhân viên của mình phục vụ tốt khách hàng”; (2) Arnett và cộng sự (2003) cho rằng “Marketing nội bộ liên quan đến việc các nhà quản lý có thể thay đổi văn hóa của doanh nghiệp thông qua quá trình tuyển dụng, tập huấn, đào tạo và tạo động lực cho đội ngũ nhân viên nhằm mục đích phù hợp với tầm nhìn mới”; (3) Tsai (2014) cho rằng “Marketing nội bộ là tập hợp của những hoạt động được sử dụng bởi bộ phận quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức nhằm mục đích tạo động lực một cách hiệu quả, giáo dục và tập huấn đội ngũ nhân viên của công ty để cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng”; (4) Theo Kaur và Sharma (2015) thì “Marketing nội bộ là một khái niệm mà trong đó các doanh nghiệp sử dụng các công cụ marketing để thu hút và giữ chân đội ngũ nhân viên giỏi từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh ở các khía cạnh tài chính và phi tài chính”. 15 Trong luận án này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Rafiq và Ahmed (1998, 2002) và tư tưởng cơ bản từ định nghĩa điển hình của các tác giả Kotler (2003), Arnett và cộng sự (2003), Tsai (2014), Kaur và Sharma (2015) làm nền tảng chính thống cho việc triển khai nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của luận án. Đặc điểm chung cốt lõi và các thành phần của marketing nội bộ 2.