Chương 1 cũng đã nêu mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi của nghiên cứu. Công việc tiếp theo là khảo sát cơ sở lý luận và các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ của các biến nghiên cứu. 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày cơ sở lý thuyết kinh tế về mối quan hệ tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán. Kế đến là xem xét các nghiên cứu thực nghiệm trước đây liên quan đến vấn đề nghiên cứu như là sự minh chứng trong thực tế cho các mối quan hệ này.
Và cuối cùng là trình bày các giả thuyết nghiên cứu thể hiện mối quan hệ của các yếu tố này.1 Các lý thuyết nền tảng và biện luận mối quan hệ bằng lý thuyết kinh tế Theo Andreas và Peter (2007) có hai lý thuyết nền tảng thường được sử dụng để giải thích cho mối quan hệ tác động giữa các biến vĩ mô và lợi nhuận của thị trường chứng khoán. Một là thông qua Lý thuyết định giá chênh lệch (Arbitrage pricing theory) của Ross (1976) là một lý thuyết tổng quát về định giá tài sản, và nó đang dần có sức ảnh hưởng lớn trong việc định giá các cổ phiếu. APT nói rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản tài chính có thể được đo lường thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau hoặc là yếu tố thị trường. Sự nhạy cảm của tài sản với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đại diện bằng đại lượng xác định gọi là hệ số beta.
Xuất phát từ lý thuyết này, mô hình xác định tỷ suất sinh lợi cho các chứng khoán đã được sử dụng để định giá tài sản một cách chính xác- Giá của tài sản tài chính phải bằng với mức kỳ vọng vào cuối giai đoạn đầu tư được chiết khấu về hiện tại với mức chiết khấu được tính toán trong mô hình. Nếu giá khác nhau, cơ hội kinh doanh chênh lệch sẽ đưa nó về lại đúng đường thẳng như mô hình. Hai là dựa trên mô hình hiện giá hoặc mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiếu. Theo mô hình này giá chứng khoán phụ thuộc vào dòng tiền kỳ vọng trong tương lai và suất chiết khấu tương lai của dòng tiền này.
Một lần nữa tất cả các yếu tố 6 vĩ mô đều ảnh hưởng đến dòng tiền kỳ vọng tương lai hoặc suất chiếu khấu do đó ảnh hưởng đến giá chứng khoán. Ngoài ra lý thuyết về thị trường hiệu quả cũng là một cơ sở lý thuyết quan trọng để lý giải tại sao ở một số thị trường kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có các biến vĩ mô có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với chỉ số chứng khoán trong khi ở một số thị trường khác kết quả nghiên cứu thực nghiệm lại không có ý nghĩa. Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán được phân tích và biện luận một cách cụ thể về mặt lý thuyết như sau: 2.1 Lạm phát và giá chứng khoán Lạm phát là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư của dân cư. Lạm phát thường được đo lường qua chỉ số giá tiêu dùng.
Giá chứng khoán bao gồm giá cổ phiếu và giá trái phiếu. Mối quan hệ ảnh hưởng của lạm phát đến giá chứng khoán được dựa trên các mô hình định giá trái phiếu và cổ phiếu được phát triển đầu tiên bởi William (1938) và sau đó được củng cố bởi Gordon và Shapiro (1956). * Mô hình định giá trái phiếu được trình bày qua công thức sau: I I I MV V0 = + +. + + (1 + r )1 (1 + r ) 2 (1 + r ) n (1 + r ) n Trong đó: V : Giá trị lý thuyết theo tính toán của trái phiếu I : Tiền lãi cố định r : Tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư MV : Mệnh giá của trái phiếu n : Số năm cho đến khi đáo hạn 7 Ta thấy là khi lạm phát tăng, nhà đầu tư sẽ yêu cầu một tỷ suất lợi nhuận cao hơn để bù phần mất giá của đồng tiền do lạm phát.
Và khi phần r mẫu số tăng sẽ dẫn đến giá trị lý thuyết V của trái phiếu giảm. Do đó ta có thể nói khi lạm phát tăng giá trị của trái phiếu sẽ giảm và ngược lại. * Mô hình định giá cổ phiếu tổng quát được trình bày như sau: Giá hôm nay của một cổ phiếu là hiện giá của tất cả cổ tức tương lai của nó. ∞ Divt V= ∑ (1 + k ) t =1 t e Trong trường hợp cổ tức tăng trưởng đều theo tỷ lệ g, khi đó giá cổ phiếu được tính như sau: ∞ Divt D1 V= ∑ (1 + k ) = (k − g ) t =1 t e e Gọi là mô hình tăng trưởng Gordon Trong đó: V : Giá trị lý thuyết theo tính toán của cổ phiếu Div : cổ tức Ke : tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư g : tỷ lệ tăng trưởng cổ tức đều không thay đổi.
Ta thấy là khi lạm phát tăng, nhà đầu tư sẽ yêu cầu một tỷ suất lợi nhuận cao hơn để bù đắp phần giá trị mất đi do mất giá của đồng tiền. Tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư cao hơn nghĩa là Ke tăng sẽ làm cho giá trị của cổ phiếu V theo tính toán bằng công thức trên sẽ giảm. Do đó ta có thể nói là khi lạm phát tăng giá trị của cổ phiếu sẽ giảm và ngược lại. 8 Từ phân tích nói trên ta thấy lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến giá trái phiếu và giá cổ phiếu hay khái quát hóa là là lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số chứng khoán.
Các nghiên cứu thực nghiệm của Anari và Kolari (2001), Humpe và Macmillan (2007), Jiranyakul (2009), Nguyễn Phú Hiếu (2011) đều tìm thấy lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều đến chỉ số chứng khoán.2 Lãi suất tiền gửi và giá chứng khoán Quan hệ giữa lãi suất và giá chứng khoán rõ ràng là ngược chiều vì theo mô hình định giá trái phiếu và cổ phiếu nêu trên khi lãi suất ngân hàng trả cho tiền gửi tăng lên sẽ dẫn đến tỷ suất lợi nhuận yêu cầu bởi nhà đầu tư cũng tăng theo và điều đó sẽ làm cho giá trái phiếu và giá cổ phiếu giảm. Frank và Keith (2008) đã phân tích quan hệ ảnh hưởng giữa lạm phát, lãi suất và giá chứng khoán như sau: Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều nhau. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ.
Do đó, giữa lãi suất thị trường và lãi suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm. Không chỉ vậy, quan hệ quan hệ giữa lãi suất thì trường và lãi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. Nếu lãi suất thị trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm, điều này khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gửi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán. 9 Nhưng quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và giá chứng khoán là không trực tiếp và không nhất quán.
Lý do là dòng tiền thu được từ chứng khoán có thể thay đổi cùng với lạm phát và lãi suất, chúng ta không thể chắc chắn là thay đổi này trong dòng tiền thu sẽ tăng lên hay là bù trừ với thay đổi trong lãi suất. Để minh hoạ điều này, hãy xem xét các kịch bản dưới đây khi tỷ lệ lạm phát tăng và ảnh hưởng của nó đối với giá cổ phiếu dựa vào mô hình định giá cổ phiếu. Kịch bản tích cực: Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng, và thu nhập của công ty có khả năng tăng lên vì các công ty có thể tăng giá bán cùng với việc gia tăng chi phí. Trong trường hợp này, giá cổ phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng ngược chiều của việc gia tăng trong tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư (k) sẽ bù đắp một phần hoặc toàn bộ bằng sự gia tăng trong tỷ lệ tăng lợi nhuận và cổ tức (g), nghĩa là lợi nhuận từ cổ phiếu tăng cùng với lạm phát.
Kịch bản tiêu cực nhẹ: Lãi suất tăng do lạm phát, nhưng dòng tiền kỳ vọng thay đổi rất ít hoặc hầu như không thay đổi vì các công ty không thể tăng giá bán tương ứng với chi phí tăng lên. Điều này gây nên sự sụt giảm trong giá cổ phiếu tương tụ như điều xảy ra với trái phiếu. Tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư (k) sẽ tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng cổ tức (g) sẽ không đổi. Do đó hiệu số k - g sẽ lớn hơn và kết quả là giá cổ phiếu giảm.
Kịch bản rất tiêu cực: Lãi suất tăng do lạm phát, trong khi dòng tiền sụt giảm vì lạm phát làm tăng lãi suất đã có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận. Lãi suất tăng và giữ ở mức cao trong thời gian kinh tế suy thoái, làm sụt giảm cả doanh thu và lợi nhuận. Kế đến, mọi người có thể hình dung một thời kỳ lạm phát trong đó chi phí sản xuất tăng, nhưng nhiều công ty không thể tăng giá bán, điều này gây sụt giảm trong lợi nhuận. Ảnh hưởng này có thể là một thảm họa, trong kịch bản này, giá cổ phiếu sẽ sụt giảm đáng kể vì tỷ suất lợi nhuận yêu cầu k sẽ tăng khi tỷ lệ tăng trưởng cổ tức g giảm, làm hiệu số k - g sẽ lớn hơn nhiều.
10 Trái ngược với các kịch bản trên, chúng ta có thể hình dung một bộ kịch bản khi lạm phát và lãi suất giảm. Quan hệ ảnh hưởng của lạm phát và lãi suất đến giá cổ phiếu là không trực tiếp và nhất quán như quan hệ ảnh hưởng của lãi suất đến giá trái phiếu. Ý tưởng chính là ảnh hưởng của thay đổi lãi suất trên giá cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào điều gì gây ra thay đổi trong lãi suất và ảnh hưởng của sự kiện này đối với dòng tiền kỳ vọng của cổ phiếu phổ thông. Đặc biệt là, quan hệ thực tế giữa lạm phát, lãi suất và giá chứng khoán là một vấn đề kinh nghiệm hơn là lý thuyết và ảnh hưởng này thay đổi theo thời gian.