CHƯƠNG I: TONG QUAN VE HĐKD XĂNG DAU 1. Giới thiệu về sản phẩm xăng dầu 1. Đặc điểm của xăng dau Xăng dau là tên gọi chung của sản phẩm được tạo ra từ quá trình lọc dầu được sử dụng làm nguyên liệu, bao gồm: xăng động cơ, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut, các nhiên liệu dùng cho máy bay; các sản phẩm dùng làm nhiên liệu cho động cơ. Xăng là một loại dung dịch nhẹ chứa hydrocacbon có đặc tính dễ bay hơi, dễ bốc cháy và được sử dụng cho các động cơ đốt trong.
Xăng là sản phẩm phụ của ngành dầu mỏ (sản phẩm chính là dầu hỏa) xăng được sử dụng là nhiên liệu cho các phương tiện giao thông bởi xăng có thé tạo ra nhiều năng lượng trong buồng đốt và khả năng kết hợp tốt với không khí trong bộ chế hòa khí. Xét về tính chất hóa học, xăng được cấu tạo hỗn hợp từ các phần tử hrdrocarbon ở dạng bão hòa khác nhau. Nhiệt độ sôi chủ yếu của xăng dầu là từ 30 đến 200 độ C (85-390 độ F), tùy theo điều kiện và mục đích sử dụng mà xăng được điều chỉnh ở mức nhiệt độ khác nhau. Vai trò của ngành xăng dau đối với nền kinh tế Việt Nam Xăng dầu là sản phẩm chiến lược, có vai trò rất quan trọng trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đời sống xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia.
Xăng dầu dùng để sản xuất ra nhiều loại hàng hóa đa dạng nên ảnh hưởng rất nhiều đến chỉ phí sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm và giao thông vận tải. Tại Việt Nam, chi phí xăng dầu chiếm tỷ trọng lớn cấu thành nên giá thành của nhiều sản phẩm: chiếm 40% giá thành của ngành vận tải ô tô, 22-55% trong ngành kinh tế, 5-17% trong ngành công nghiệp và 3-15% trong ngành nông nghiệp (Tổng Cục Thống kê, 2015). Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khâu nên khi giá xăng dầu tăng hoặc giảm sẽ ảnh hưởng rat lớn đến sự phát triển của nên kinh tế quốc gia. Nếu giá xăng dau tăng sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến ngành đánh bắt thủy sản và ngành vận tai.
Cụ thé, khi giá xăng dầu tăng 10% sẽ làm tong sản phẩm quốc nội (GDP) giảm khoảng 0. Giá xăng dầu biến động cũng ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Khi giá xăng dầu tăng 10% sẽ làm cho chỉ số CPI tăng 0,36 điểm phan trăm. Bên cạnh đó, chi tiêu cho xăng dầu chiếm 1,5% trong tổng chi tiêu của cả nền kinh tế, do đó nếu giá xăng dầu tăng sẽ làm cho hộ gia đình có xu hướng cắt giảm chỉ tiêu dẫn đến tổng cầu của nền kinh tế có xu hướng giảm.
KDXD, bao gồm các HDKD: xuất, nhập khẩu, nhập khâu nguyên liệu đê sản xuât, chê biên xăng dâu; phân phôi xăng dâu cho thị trường trong nước; dịch vụ cho thuê cảng, kho, tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu và dịch vụ vận tải xăng dầu. Cơ sở KDXD là diễn ra hoạt động sản xuất, chế biến, giao nhận, tồn trữ, bán lẻ xăng dầu bao gồm: cảng chuyên dụng xuất nhập xăng dầu; nhà máy sản xuất, chế biến xăng dầu; kho xăng dầu; cung cấp phương tiện vận tải cho ngành xăng dầu; cửa hàng, dai lý bán lẻ xăng dau. Quy trình sản xuất xăng dầu Quy trình sản xuất xăng dau bao gồm quá trình lọc dầu, chuyền hóa dau thô và các nguyên liệu khác thành sản phẩm xăng dầu. Các nguyên liệu dùng dé sản xuất và chế biến xăng dầu bao gồm: dau thô, condensate, loại xăng có chỉ số octan cao, reformate, naphta và các chế phẩm phụ gia khác.
Quy trình chế biến xăng dầu được tóm tắt trong 3 công đoạn, cụ thé như sau: + Phân đoạn làm sạch: Xăng dầu được vận chuyên về nhà máy lọc dầu tại khu vực sẽ được làm sạch khỏi nước, tách các loại muối và các tạp chất có trong sản phẩm xăng dầu. + Phân đoạn lọc dầu: Có thé nói đây là công đoạn quan trọng chiếm yếu tố quyết định về chất lượng xăng dầu. Công đoạn lọc dầu sẽ bắt đầu bằng khâu chưng cất dầu thô. Các chuyên gia căn cứ vào nhiệt độ sôi khác nhau của các chất hóa hoc trong dau thô dé quyết định nhiệt độ sôi ở áp suất khí quyên trong bước phân tách xăng dầu thành các phân đoạn nhỏ hơn.
- Xăng sẽ sôi ở nhiệt độ từ 35-1800 độ C - Dau hỏa sẽ sôi ở nhiệt độ từ 180 — 2500 độ C - Dầu diexzen ( nhiệt độ sôi từ 250 — 3500 độ C) - Đối với các cặn xăng dau có nhiệt độ sôi lớn hơn 3500 độ C phải chưng cất ở môi trường chân không để lấy ra phân đoạn có nhiệt độ sôi 400 — 5500 độ C được chế biến bằng công nghệ cracking xúc tác giúp tạo ra các sản phẩm có khối lượng nhẹ như xăng, dầu hỏa, nhiên liệu diezen, dầu nhờn. + Phân đoạn pha trộn với phụ gia: Sau khi chưng cất dầu thô thành sản phẩm thì sẽ trải qua bước pha trộn tiếp theo đề thành các sản phẩm xăng dầu đang được bán tại các cửa hàng kinh doanh trên thị trường. Ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh xăng dầu 1. Anh hướng đến môi trường không khí từ hoạt động kinh doanh xăng, dau Hiện tượng ô nhiễm không khí (ONKK) xảy ra là sự tồn tại một chất lạ hoặc thay đổi thành phan quan trọng trong không khí, làm cho không khí trở nên ô nhiễm hoặc gây ra sự mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi).
Có rất nhiều nguồn gây ONKK. Có thê chia ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo như: núi lủa, cháy rừng, bão cát, các quá trình phân hủy động, thực vật; Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương tiện giao thông. * Ô nhiễm do hơi xăng, dầu: Hoạt động xuất, nhập, vận chuyên, dự trữ xăng dầu đã gây ra sự rò rỉ hơi xăng. Đây chính là nguyên nhân chính gây nên tình trạng hao hụt xăng, dầu va 6 bến xuất, nhập và khu bồn chứa.Nguyên nhân diễn ra rò rỉ hơi xăng này là: - Do hiện tượng rò rỉ khe hở của bồn chứa: Khi bơm hàng hóa vào bồn chứa thì thê tích thùng khi có xăng bị nén lại gây nên hiện tượng áp xuất trong bồn tăng.
Dé dan bảo an toàn cho bồn chứa thì nhân viên nhập xăng phải xả van thở, theo đường van thở này, hơi xăng dầu đi ra ngoài gây nên sự hao hụt xăng dầu và gây ONKK, có nguy cơ xảy ra cháy nổ và anh hướng đến sức khỏe của nhân viên trạm xăng và khách hàng đến mua xăng. Khi bơm đủ xăng vào bồn chứa thì do đặc tính của xăng dau luôn bay hơi cho du nhiệt độ không thay đổi thì vẫn gây ra sự hao hụt thở nhỏ. Trong quá trình vận chuyên, hơi xăng có thé bị rò ri từ hệ thống van, ống trong quá trình tháo xả xăng từ bồn này sang bồn chứa khác. Khi các chất ô nhiễm như hop cất hữu cơ bay hơi (VOC — Volantile Organic Compounds) bị rò rỉ ra bên ngoài sẽ gây tác động xấu đến SKCN, phá hủy các tế bào máu, gan thận.
Nếu tiếp xúc lâu dài có thể mắc ung thư, viêm da, ảnh hưởng đến dây thần kinh trung ương. Người bị ngô độc chất hữu cơ bay hơi có các triệu chứng như buồn nôn, mat phương hướng, mệt mỏi và thậm chí còn ảnh hưởng dé khả năng sinh sản hoặc giảm khả năng thụ thai. Ở các trạm bán lẻ xăng dầu, các trung tâm đại lý dự trữ xăng dầu sẽ ít nhiều tồn tại hợp chất hữu cơ bay hơi là VOCs do đó doanh nghiệp cần phải tối ưu lượng xăng dầu dự trữ và quản lý môi trường trong lĩnh vực KDXD theo đúng quy định của pháp luật. Ô nhiễm do khí thải từ hoạt động của các phương tiện vận tải Trong quá trình vận chuyên xăng dau bằng phương tiện giao thông đường bộ đến các đại lý, CHXD sẽ phát sinh các loại khí thải như S02, NOx, CO, bụi.Mức độ ô nhiễm khí thải từ HDKD xăng dầu phụ thuộc vào SỐ lượng phượng tiện giao thông của người dân và tần suất vận chuyên xăng dau tại khu vực.
Nếu người dân hàng ngày phải tiếp xúc với các loại khí trên hoặc bị ngộ độc các loại khí trên thì sẽ gây ảnh hưởng đến SKCN. Dưới đây là những tác động của khí thải gây ra trong cho con người: + Khí CO: Khí CO phát sinh từ chất khí, bụi của các xe vận tải xăng dầu. Sức dé kháng của con người với chất độc này là rất thấp. Khí CO dé dang gây độc cho SKCN do kết cấu bền vững với chat hemoglobin tạo thành hợp chất cacboxy hemoglobin sẽ làm giảm khả năng vận chuyên oxy ở máu đên các tê bào.
+ Khí SO2 và NOx: các khí này có tính chất không màu, không gây cháy nô tuy nhiên lại ảnh hưởng xấu đến SKCN. Tùy theo sức đề kháng và cơ thé của mỗi người mà bị kích thích ở các nồng độ khác nhau. Với một số người nhạy cảm thì nồng độ SO2 và NOx ở 1 — 2 ppm, nếu nhiễm nồng độ ở mức 5- 10ppm có thé gây co thắt khí quản. Người bị nhiễm các khí này sẽ có triệu chứng khó thở, niêm mạc bị kích thích, đường tiêu hóa bị ảnh hưởng.
Nhân viên làm việc tại CHXD nếu tiếp xúc với khí NO2 với nồng độ 0.06 ppm trong thời gian lâu sẽ mắc các bệnh về hô hấp như phổi. Ảnh hướng dén môi trường nước mặt từ hoạt động kinh doanh xăng, dau a) Các nguồn phát sinh nước thải nhiễm dầu Nguồn phát sinh nước thải nhiễm dau tại CHXD đến từ HDKD xăng dầu của doanh nghiệp bao gồm hoạt động xuất, nhập khâu và dự trữ xăng dầu trong các bồn chứa, vận chuyển xăng dầu theo các kênh phân phối đến các cơ sở sản xuất hay CHXD. Ngành kinh doanh xăng dầu (KDXD) có đặc thù khác với các ngành kinh doanh khác là không có nguyên liệu đầu vào nên không sử dụng nước trong quá trình sản xuất xăng dầu để gây ra ô nhiễm nước thải. Tuy nhiên, trên thực tế trong quá trình vận chuyên xăng dau, vệ sinh bồn chứa thì cần xả nước dé vệ sinh dụng cụ vận chuyên xăng dầu hoặc do mưa xuống bãi dự trữ xăng dầu và CHXD tao ra nguồn nước thải ô nhiễm.
Có thé thay, khối lượng nước thai ô nhiễm do HĐKD xăng dầu gây ra là không xảy ra thường xuyên và phụ thuộc vào tần suất vệ sinh bé chứa, tần suất nhập hang và vận chuyên hàng hóa.