CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH ĐẾN SỬ DỤNG TÍN DỤNG ĐEN CỦA SINH VIÊN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG ĐEN CỦA SINH VIÊN 1. Khái niệm về tín dụng Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng được coi là một công cụ mạnh mẽ cải thiện tài chính cá nhân, giúp người dùng tiếp cận với các sản phẩm tài chính tốt hơn, tiết kiệm tiền lãi và thậm chí còn giúp người sử dụng không phải đặt tiền vào tiện ích mở tiền gửi hoặc tài khoản điện thoại di động (Eric Rosenberg, 2019) Thuật ngữ “tín dụng” (credit) xuất phát từ chữ Latinh là Credo được định nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Trên thực tế, “tín dụng” có nhiều cách hiểu khác nhau, tuỳ thuộc vào đối tượng và hoàn cảnh cụ thể mà thuật ngữ có một nội dung riêng.Mác cho rằng, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Rockwell Jr (2014) lại định nghĩa tín dụng là “một sự trao đổi hàng hoá hiện tại lấy một hàng hoá tương lai”. Trong sự trao đổi này, xen lẫn yếu tố thời gian, vì sự xen lẫn đó mà sự trao đổi đi kèm với bất trắc và rủi ro. Do đó tín dụng được dựa trên sự tín nhiệm lẫn nhau. Theo Webster (1828) Tín dụng là sự ủy thác cho phép một bên cung cấp tiền hoặc nguồn lực cho một bên khác trong đó bên thứ hai không cần hoàn trả ngay cho bên thứ nhất (tạo ra một khoản nợ ), nhưng hứa sẽ hoàn trả hoặc trả lại các tài nguyên đó (hoặc các tài liệu khác có giá trị tương đương) vào một ngày sau đó.
Nói cách khác, tín dụng là một phương thức làm cho việc có đi có lại một cách chính thức, có hiệu lực pháp lý và có thể mở rộng cho một nhóm lớn những người không liên quan. Mặc dù có nhiều khái nhiệm khác nhau, nhìn chung các khái niệm đều thể hiện hai nội dung chủ yếu: Thứ nhất, người sở hữu (người cho vay) trao một số tài sản, hàng hoá hay tiền bạc cho người có nhu cầu một thời gian nhất định 14 Thứ hai, người sử dụng (người đi vay) cam kết hoàn trả số tiền, tài sản hay hàng hoá đó trong một thời gian nhất định nào đó nhưng với một giá trị lớn hơn, phần chêch lệch đó được gọi là lợi tức hay tiền lãi. Thực chất, tín dụng biểu hiện cho mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo dựng và sử dụng quỹ tín dụng hướng đến mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng đen Thị trường tín dụng đen – thị trường không chịu sự quản lý hoặc giám sát bởi các cơ quan điều hành tiền tệ (monetary authorities) hoặc Ngân hàng trung ương từ lâu đã được coi là một phần trong thị trường tín dụng tiêu dùng tại các quốc gia đang phát triển.
Tín dụng đen được hiểu chung là các hình thức vay vốn ngoài sự quản lý và giám sát của các cơ quan quản lý về tài chính tiền tệ, gồm cho vay của các cá nhân, cho vay thông qua các hình thức hụi, họ, phường, hoặc cho vay của gia đình, bạn bè, người thân (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Hành vi cho vay được cho là tín dụng đen nếu người cho vay hoặc môi giới có những hành vi như: lợi dụng điểm yếu của người đi vay bằng cách tính phí quá cao đến mức không tương xứng với rủi ro phải chịu; cho vay vốn ngay cả khi đã biết người đi vay sẽ không thể hoàn trả; hoặc thay đổi các điều khoản cho vay không báo trước, dẫn tới sự hiểu lầm giữa hai bên (Demyanyk, 2006). Theo Nugent (1941) thuật ngữ “tín dụng đen” thường được sử dụng để mô tả những người cho vay những khoản vay nhỏ, thời hạn cho vay và trả nợ ngắn với mức phí cao hơn so với luật pháp cho phép. Những yếu tố làm cho hình thức cho vay này phát sinh gồm có lòng tham của người mang đến các khoản vay, sự cả tin của người sử dụng và sự cấp thiết buộc người vay tìm đến tín dụng đen.
Nhóm các nghiên cứu Miller (1966), Kaplan và Matteis (1968), Shergold (1978) đều cho rằng tín dụng đen là việc cho vay với tỷ lệ cao hơn giới hạn theo quy định của pháp luật hoặc định mức được xã hội chấp nhận. Đây là nguồn thu quan trọng nhất của hoạt động tội phạm có tổ chức, bên cạnh nguồn thu từ đánh bạc. Các khoản thanh toán phải được trả vào ngày giờ xác định, sự chậm trễ trong việc trả nợ có thể sẽ dẫn đến một mức lãi suất cao hơn thậm chí là sự truy đòi gắt gao. Ngoài ra, những kẻ 15 cho vay nặng lãi đã thâm nhập được cả vào các ngân hàng và doanh nghiệp hợp pháp; “núp bóng” các tổ chức này để tiếp tục mở rộng các hoạt động phi pháp.
Với cách hiểu như vậy, có thể thấy ba đặc điểm quan trọng của tín dụng đen: Nằm ngoài hệ thống các tổ chức tài chính được cấp phép Tín dụng đen gồm những hoạt động cho vay tín dụng không qua hệ thống ngân hàng, và không chịu sự quản lý chính thức bởi các cơ quan quản lý Nhà nước. Các giao dịch tín dụng đen đa số là giao dịch ngầm, nội bộ, có lãi suất huy động và cho vay cao, trong khi thủ tục thực hiện đơn giản, ngắn gọn so với các hoạt động tín dụng ngân hàng chính thức (Nguyễn Vân Hà và cộng sự, 2018). Các tổ chức cung cấp tín dụng đen bao gồm các tổ chức tín dụng nhỏ, hiệu cầm đồ với biển hiệu cho vay nặng lãi, “bốc bát họ”. Các hoạt động này được coi là hoạt động tín dụng đen và không chịu kiểm soát của bất kỳ cơ quan quản lý nào.
Mức lãi suất cao Lãi suất của tín dụng đen thường ở mức quá cao, cho vay không tính toán đến khả năng trả nợ, tái cấp vốn vay trong một khoảng thời gian ngắn mà không chú ý tới lợi ích kinh tế từ người đi vay. Ngoài ra còn thực hiện các hành vi gian lận hoặc giả mạo - ví dụ như giả mạo giấy tờ hoặc cố tình cung cấp thông tin sai cho người đi vay (Schmulow, 2017). Gắn với các hành vi vi phạm pháp luật. Các hành vi phạm tội liên quan đến “Tín dụng đen” thường là: sử dụng danh nghĩa doanh nghiệp, ngân hàng để huy động tiền, dùng lãi suất cao để huy động tiền, trả trước lãi, dễ dàng trong việc cho vay (lãi nặng), người vay sẽ bị siết tài sản khi không còn khả năng trả nợ.
Các trường hợp vay vốn đều không phải thế chấp bằng tài sản hoặc chỉ có một tài sản nhưng thế chấp, kể cả khi số tiền đi vay cao hơn nhiều lần trị giá tài sản thế chấp. Bên cạnh đó thủ tục thế chấp của những cơ sở cho vay tín dụng đen không bảo đảm theo quy định của pháp luật. Theo Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất (Khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay) có tính chất chuyên bóc lột đi kèm với hành vi thu lợi bất chính, lợi 16 dụng hoàn cảnh khó khăn của người đi vay để cho vay với lãi suất cao sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ những đặc trưng riêng có thể rút ra bảng so sánh giữa tín dụng chính thức và tín dụng đen như sau: Bảng 1.1: Bảng so sánh tín dụng chính thức và tín dụng đen Tiêu chí vay Tín dụng chính thức Tín dụng đen Là công dân Việt Nam trên 18 Đối tượng tuổi có thu nhập ổn định từ 3 Không giới hạn được vay triệu/tháng Theo quy trình cấp tín dụng của từng tổ chức tín dụng nên cần nhiều giấy tờ, xử lý giao dịch lâu Nhanh gọn và dễ dàng (chứng Thủ tục vay cần phải xác minh điều kiện vay minh nhân dân, thẻ sinh viên (giấy tờ chứng minh mục đích sử hoặc bằng lái xe…) dụng vốn, chứng minh thu nhập…) Thường cao hơn nhiều so với lãi Theo quy định chung, phù hợp suất vay vốn trên thị trường Lãi suất với cung cầu trên thị trường vay chứng thức, không theo quy định vốn chính thức chung của pháp luật.
Phụ thuộc vào cảm nhận của Quy mô Phụ thuộc vào giá trị tài sản đảm người cho vay đối với người đi khoản vay bảo, đánh giá khả năng trả nợ vay Tùy thuộc theo nhu cầu khách Không hạn chế thời gian vay vì hàng, có thể ngắn hạn, trung hạn, Thời hạn lãi được tính theo ngày; có thể trả và dài hạn; thậm chí thời hạn vay hoàn trả lãi 10 ngày/lần hoặc 01 tháng/lần có thể lên đến 20-30 năm tuỳ mục hoặc theo thỏa thuận đích vay Tài sản đảm bảo theo quy định Tài sản thế chấp đơn giản (xe Tài sản thế (nhà/đất, sổ lương, tài sản có giá máy, điện thoại, giấy tờ tùy chấp khác, …) thân…) 17 Dùng tài sản thế chấp để trả nợ Không trả Đòi nợ, siết nợ đi kèm với những (tổ chức tín dụng có quyền xử lý được nợ hành vi vi phạm pháp luật tài sản để thu hồi nợ) (Nguồn: Dữ liệu do nhóm nghiên cứu tổng hợp) Mặc dù có mức rủi ro rất lớn nhưng nhiều người đặc biệt là học sinh sinh viên và những người có mức thu nhập thấp vẫn lựa chọn “tín dụng đen” để đáp ứng nhu cầu chi tiêu bởi một số lý do: Không kiểm tra lịch sử tín dụng Khác với việc vay tín dụng chính thức là việc vay tín dụng đen sẽ không bị ghi lại trên lịch sử tín dụng của người đi vay đồng thời việc vay được hay không không phụ thuộc vào điểm tín dụng (tình trạng các khoản vay trước đó) Cải thiện khả năng quản lý tài chính cá nhân Các khoản vay mang đến cho người đi vay một khoản để thanh toán dư nợ trước đó đồng thời giúp họ có cơ hội quản lý tài chính có trách nhiệm hơn và thanh toán đúng hạn. Có thể vay số tiền lớn Ngoài thủ tục nhanh gọn ưu điểm lớn nhất của “tín dụng đen” chính là khoản vay không giới hạn, người đi vay có thể vay số lượng lớn, giải ngân nhanh chóng mà không cần thêm bất kì thủ tục giấy tờ gì.