chương 1, tác giả đã trình bày rõ ràng, cụ thể về lý do chọn đề tài, đồng thời đưa ra câu hỏi, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu theo chủ đề một cách khách quan. Ngoài ra, tác giả còn trình bày về phương pháp nghiên cứu cùng bố cục khóa luận. Những yếu tố trên là cơ sở, nền tảng vững chắc để triển khai đề tài trong các chương tiếp theo của khóa luận. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm thẻ tín dụng Căn cứ vào khoản 3 Điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016 quy định hoạt động thẻ ngân hàng, đã đưa ra định nghĩa về TTD “ Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ”. TTD là một miếng nhựa hoặc kim loại mỏng hình chữ nhật do ngân hàng hoặc công ty dịch vụ tài chính phát hành cấp cho KH. Cho phép người dùng mượn một khoản tiền tín dụng tạm thời để thanh toán cho các món hàng hoặc dịch vụ. Khi sử dụng TTD, chủ thẻ vay tiền từ ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng phải cam kết trả lại số tiền số tiền đã vay, cộng với mọi khoản lãi suất áp dụng, cũng như mọi khoản phí bổ sung đã thỏa thuận, đầy đủ trước ngày thanh toán.
TTD có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như mua sắm trực tuyến, thanh toán hóa đơn, đặt vé máy bay và thực hiện các giao dịch khác mà không cần dùng tiền mặt. Hạn mức TTD được xác định bởi tổ chức phát hành thẻ dựa trên các yếu tố như thu nhập và điểm tín dụng của người dùng. Yếu tố này cũng quyết định mức độ tín dụng được cấp cho chủ thẻ. Người dùng có thể sử dụng TTD để thanh toán tiền mua hàng hoặc dịch vụ tại các địa điểm chấp nhận thẻ hoặc rút tiền mặt tại các trụ ATM hoặc điểm bán lẻ có POS tương ứng, trong phạm vi hạn mức tín dụng được thỏa thuận giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ.
Đặc điểm của thẻ tín dụng Thanh toán trước, trả sau: Đặc điểm cơ bản nhất của thẻ tín dụng là khả năng chi tiêu trước trong một hạn mức nhất định đã được ngân hàng phê duyệt. Sau đó, người dùng có thể thanh toán lại toàn bộ số tiền hoặc một phần số tiền đó vào cuối kỳ. 8 Hạn mức tín dụng: Mỗi thẻ tín dụng sẽ có một hạn mức tín dụng nhất định, đây là số tiền tối đa mà bạn có thể chi tiêu trong một kỳ. Hạn mức tín dụng sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, lịch sử tín dụng của người dùng.
Lãi suất: Nếu người dùng không thanh toán hết số tiền đã chi tiêu trong kỳ, người dùng sẽ phải trả lãi suất cho phần tiền còn nợ. Lãi suất thẻ tín dụng thường khá cao so với các loại hình vay vốn khác. Phí thường niên: Hầu hết các thẻ tín dụng đều có phí thường niên, đây là khoản phí mà người dùng phải trả hàng năm để được sử dụng thẻ. Ưu đãi và khuyến mãi: Nhiều ngân hàng cung cấp các chương trình ưu đãi và khuyến mãi hấp dẫn cho khách hàng sử dụng thẻ tín dụng như tích điểm, giảm giá, trả góp 0%,.
Phân loại thẻ TTD có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm: 2. Theo phạm vi sử dụng: TTD nội địa: là loại thẻ thanh toán với phạm vi sử dụng trong nước, chỉ sử dụng được trong phạm vi lãnh thổ thuộc quốc gia đó. TTD quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận thanh toán ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Đặc trưng của TTD này là mặt trước thẻ luôn có logo của các tổ chức thanh toán quốc tế như Visa, MasterCard hoặc JCB… 2.2 Theo chủ thẻ sử dụng TTD cá nhân được phát hành dành cho cá nhân, cung cấp các dịch vụ cho nhu cầu chi tiêu hàng ngày và thanh toán cá nhân.
TTD cá nhân bao gồm hai loại: thẻ chính và thẻ phụ. Hạn mức chi tiêu của thẻ phụ thường thấp hơn thẻ chính và được giới hạn 9 bởi chủ thẻ chính. Chủ thẻ chính chịu trách nhiệm thanh toán cho tất cả các giao dịch được thực hiện bằng thẻ phụ. TTD doanh nghiệp được thiết kế dành cho các doanh nghiệp, công ty dùng để thanh toán tín dụng.
Mục đích chính của việc sử dụng nguồn tiền từ các tổ chức thường là tạm ứng, chi lương, thanh toán các khoản phí liên quan đến hoạt động kinh doanh của tổ chức. Theo tính năng và ưu đãi: Thẻ tín dụng hoàn tiền (cashback): Hoàn lại một phần tiền cho các giao dịch mua sắm, thanh toán. Thẻ tín dụng tích điểm: Mỗi giao dịch sẽ được quy đổi thành điểm thưởng, có thể đổi lấy quà tặng hoặc ưu đãi từ ngân hàng. Thẻ tín dụng du lịch: Cung cấp các ưu đãi liên quan đến du lịch, như tích lũy dặm bay, ưu đãi khách sạn, bảo hiểm du lịch.
Thẻ tín dụng mua sắm: Được thiết kế đặc biệt cho các giao dịch mua sắm với các ưu đãi tại các cửa hàng đối tác. Theo hạn mức tín dụng Thẻ tín dụng chuẩn (standard): Hạn mức tín dụng cơ bản, phù hợp với đa số khách hàng cá nhân. Thẻ tín dụng vàng (gold): Hạn mức tín dụng cao hơn, thường dành cho khách hàng có thu nhập cao hơn. Thẻ tín dụng bạch kim (platinum): Hạn mức tín dụng rất cao, kèm theo nhiều ưu đãi và dịch vụ cao cấp.
Theo cách thức thanh toán: Thẻ tín dụng trả góp: Cho phép khách hàng trả góp số tiền đã chi tiêu theo kỳ hạn với lãi suất thấp hoặc không lãi suất. Thẻ tín dụng trả đủ: Khách hàng phải thanh toán toàn bộ số tiền đã chi tiêu vào cuối kỳ sao kê. Theo công nghệ: Thẻ tín dụng truyền thống: Sử dụng dải từ hoặc chip để lưu trữ thông tin. Thẻ tín dụng không tiếp xúc (contactless): Sử dụng công nghệ NFC để thanh toán nhanh chóng chỉ bằng cách chạm thẻ vào máy đọc.
Thẻ tín dụng ảo (virtual credit card): Chỉ sử dụng số thẻ ảo để thanh toán trực tuyến, không có thẻ vật lý. Theo phương thức bảo đảm: Thẻ tín dụng không bảo đảm (unsecured credit card): Không yêu cầu tài sản thế chấp, phổ biến nhất. Thẻ tín dụng bảo đảm (secured credit card): Yêu cầu khách hàng ký quỹ một số tiền bảo đảm để mở thẻ, thường dành cho người có lịch sử tín dụng yếu hoặc mới bắt đầu xây dựng tín dụng. Theo thương hiệu thẻ TTD Visa: Được phát hành bởi Visa International Service Association, một tổ chức có trụ sở tại Hoa Kỳ.
Hiện nay thẻ Visa đã được phát hành ở 190 quốc gia trên thế giới, cho phép người dùng dễ dàng thanh toán mọi lúc, mọi nơi. Hiện nay, TTD của Home Credit cũng là thẻ Visa. 11 TTD Mastercard: Được phát hành bởi Mastercard Worldwide, một công ty có trụ sở tại Hoa Kỳ. Thẻ Mastercard cũng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở thị trường châu Mỹ.
TTD JCB được phát hành bởi Japan Credit Bureau (JCB), một công ty của Nhật Bản. Thẻ JCB hiện đã có mặt và cho phép thanh toán tại 190 quốc gia. TTD American Express được phát hành bởi American Express, một tổ chức phát hành thẻ quốc tế. Thẻ này đã có mặt tại hơn 230 quốc gia trên toàn cầu.
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action -TRA) Lý thuyết hành động hợp lý được gọi tiếng anh là Theory of Reasoned Action (TRA), do Ajzen và Fishbein phát triển năm 1975, thừa nhận rằng các cá nhân đưa ra quyết định về các hành vi cụ thể dựa trên thông tin họ thu thập được. Trọng tâm của lý thuyết này là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi: thái độ và nhận thức chuẩn mực chủ quan. Trong bối cảnh của TRA, “Thái độ thường được xác định bằng cách đo lường mức độ tích cực hoặc tiêu cực của người tiêu dùng đối với một sản phẩm, dịch vụ hoặc hành vi mua hàng cụ thể”. Điều này bao gồm cảm nhận về các thuộc tính sản phẩm, lợi ích từ việc sử dụng sản phẩm đó, hoặc những cảm xúc được kích thích bởi việc sở hữu hoặc sử dụng sản phẩm.
Ví dụ, nếu một người có thái độ tích cực đối với việc sử dụng điện thoại của một nhãn hiệu có sức ảnh hưởng lớn cà đáng tin cậy, thì họ coi nó là một công cụ hữu ích, có thiết kế đẹp và phù hợp với họ. Ngược lại, nếu họ có thái độ tiêu cực, thì họ sẽ thấy sản phẩm đó không đáng giá hoặc không đáng tin cậy. 12 Theo lý thuyết TRA (Fishbein & Ajzen, 1975), “Chuẩn mực chủ quan đo lường mức độ mà một người cảm nhận rằng mọi người xung quanh (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) mong đợi họ thực hiện một hành vi cụ thể. Nó thường được đo bằng cách hỏi người tham gia về ý kiến và mong đợi của những người quan trọng đối với hành vi đó”.
Ví dụ, trong trường hợp một cá nhân nhận thấy rằng bạn bè hoặc gia đình mong đợi họ mua một sản phẩm cụ thể và họ cho rằng việc đáp ứng mong đợi này là quan trọng, họ sẽ cảm thấy áp lực để thực hiện hành vi mua hàng đó. Độ gắn kết với những người này càng chặt chẽ, thì sự ảnh hưởng lên quyết định mua sắm của người tiêu dùng càng lớn. Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA Nguồn: Ajen and Fishbein, 1975 2. Thuyết hành vi dự định ( Theory of Planned Behaviour – TPB) Mô hình Thuyết hành vi dự định (TPB) là sự phát triển từ mô hình Thuyết hành động hợp lý (TRA), được Ajen phát triển vào năm 1985.
Sau khi nhận thấy những hạn chế của TRA, TPB đã được mở rộng bằng cách thêm một biến mới được gọi là nhận thức kiểm soát hành vi. Theo mô hình của (Ajzen, 1991), ý định thực hiện hành vi được ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính: “thái độ đối với hành vi”, “chuẩn chủ quan”, “nhận thức kiểm soát hành vi”. 13 Trong bối cảnh của TPB, “Nhận thức kiểm soát hành vi là sự đánh giá của cá nhân về khả năng kiểm soát và thực hiện một hành vi cụ thể. Đây là sự tự tin của cá nhân vào khả năng của mình để kiểm soát và ảnh hưởng đến kết quả của hành vi đó.” Ví dụ, nếu một cá nhân cảm thấy rằng bản thân được trang bị đủ kỹ năng, kiến thức và nguồn lực để làm một điều gì đó nhất định và chắc chắn rằng mình có thể đối mặt mọi rủi ro hoặc trở ngại, họ sẽ có nhận thức cao về kiểm soát hành vi.