CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO LIÊN MINH CHÂU ÂU - VIỆT NAM (EVFTA) 1. KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 1. Hiệp định thương mại tự do (FTA - Free Trade Agreement) Theo quan niệm truyền thống: “Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên” (Từ VCCI, 2015). Hầu hết các định nghĩa về FTA truyền thống thường chỉ bao gồm những cam kết tự do hóa thương mại (TM) trong lĩnh vực TM hàng hóa, một số ít có thêm các cam kết tự do hóa TM dịch vụ và các nguyên tắc chung về đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh.
Tuy nhiên TM thế giới ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng. Nếu trước đây các hoạt động giao dịch chủ yếu là các sản phẩm hữu hình thì ngày nay đã có ngày càng nhiều các sản phẩm dịch vụ, phi vật thể. Các thể nhân trên thị trường giao dịch cũng gia tăng về số lượng và quy mô, thực hiện kinh doanh TM theo hướng chuyên ngành và đa ngành. Các phương thức giao dịch cũng ngày càng hiện đại, nhiều dịch vụ TM mới ra đời.
Bên cạnh đó, các hoạt động xúc tiến đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, thuận lợi hóa thủ tục hải quan (HQ). cũng được đẩy mạnh. Do những sự phát triển này, việc thỏa thuận giữa các quốc gia trong giao thương cũng ngày càng mở rộng cả về nội dung. Điều đó có nghĩa là các nội dung được đề cập trong các FTA không chỉ còn bó hẹp trong các nội dung truyền thống như đã đề cập ở trên, mà còn được bổ sung các nội dung mới.
Chính vì vậy, xuất hiện khái niệm FTA thế hệ mới. Thuật ngữ “thế hệ mới” hoàn toàn mang tính tương đối, được sử dụng để nói về các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa TM hàng hóa. Các FTA thế hệ mới bao gồm thêm cả các nội dung vốn được coi là “phi thương mại” như lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững và quản trị tốt. Những FTA 9 thế hệ mới có mức độ cam kết mở cửa mạnh nhưng lại đặt ra các tiêu chuẩn cao trong vấn đề quy tắc.
Nội dung chính của Hiệp định thương mại tự do Các nội dung chính về TM hàng hóa thường được các nước thành viên thỏa thuận trong FTA gồm: Thuế quan, hạn ngạch thuế quan, thuận lợi hóa TM, TBTs, SPSs, các biện pháp phòng vệ TM, QTXX. FTA hiện đại còn bao phủ các nội dung khác như TM dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, phát triển bền vững, lao động và môi trường,. Cụ thể: - Về tự do hóa TM, trong FTA không thể thiếu được các cam kết cắt giảm, dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Các bên cam kết dần dần xóa bỏ thuế quan, áp dụng thuế suất 0% đối với hầu hết các mặt hàng và quy định danh mục hàng hóa đưa vào cắt giảm thuế quan.
Danh mục hàng nhạy cảm, danh mục loại trừ không đưa vào cắt giảm. Bên cạnh đó, FTA còn đưa ra lộ trình cụ thể cho việc cắt giảm thuế và thực hiện các cam kết của các nước thành viên, khoảng thời gian cắt giảm thuế quan thường kéo dài không quá 10 năm. - Về QTXX, FTA thường bao gồm các quy định về QTXX hàng hóa. Nội dung của quy tắc này thường là quy định hàng hóa có nguồn gốc như thế nào sẽ được cho là đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan.
Theo đó, hàng hóa nhập khẩu (NK) vào nước đối tác phải đáp ứng được những quy tắc đó mới được hưởng ưu đãi về thuế. Ngoài ra, FTA còn có thể có các quy định về thủ tục HQ nhằm đơn giản hóa thủ tục, hài hòa với những tiêu chuẩn quốc tế từ đó tạo thuận lợi cho thông thương hàng hóa. - Về tự do hóa dịch vụ, các FTA ngày nay thường bao gồm cả nội dung tự do hóa TM và dịch vụ. Phạm vi và mức độ mở cửa thị trường còn phải tùy thuộc vào quốc gia tham gia ký kết.
Tuy nhiên, nếu có sự tham gia của một số nước phát triển thì thường đòi hỏi mức độ tự do hóa dịch vụ rất cao, thậm chí có thể đòi hỏi mở cửa tuyệt đối. - Về tự do hóa đầu tư, nội dung này đang ngày càng xuất hiện nhiều trong các FTA, đặc biệt là những FTA có sự tham gia của các nước phát triển. Các cam kết này 10 thường quy định dỡ bỏ các rào cản đối với nhà đầu tư của các nước đối tác, tạo điều kiện thuận lợi cho họ ký kết đầu tư. Phân loại các Hiệp định thương mại tự do Không có tiêu chí thống nhất hay định nghĩa chính xác để phân loại các FTA mà tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu cũng như tiêu chí đánh giá riêng sẽ có những cách phân loại FTA khác nhau.
Có thể phân loại FTA theo những tiêu chí phổ biến dưới đây: - Phân loại FTA theo tiêu chí số lượng: + FTA song phương: Là FTA chỉ có hai nước tham gia ký kết nên HĐ chỉ có GT ràng buộc giữa hai quốc gia ký kết. Do chỉ có hai quốc gia tham gia nên tiến trình đàm phán dễ dàng và nhanh chóng hơn so với những FTA có nhiều nước thành viên. Trong những loại FTA từ trước đến nay, FTA song phương là loại FTA được ký kết nhiều nhất và phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng cam kết. + FTA đa phương: là FTA có từ 3 quốc gia trở lên tham gia đàm phán và ký kết.
Do số lượng các quốc gia tham gia đàm phán ký kết nhiều nên thời gian chuẩn bị cho một FTA đa phương đi vào hiệu lực thường kéo dài hơn nhiều so với một FTA song phương. Thường được ký kết bởi các quốc gia có vị trí địa lý gần nhau, chính vì thế mà FTA đa phương còn thường được biết đến như một FTA khu vực. - Phân loại theo tiêu chí khu vực địa lý: + FTA khu vực: là loại hình FTA được ký giữa các nước trong cùng một tổ chức khu vực. Những quốc gia này tham gia FTA khu vực với mục đích để tận dụng ưu thế về mặt địa lý, tăng cường trao đổi TM cũng như thắt chặt mối quan hệ láng giềng, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Một số FTA khu vực điển hình như Khu vực TM tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực TM tự do ASEAN (AFTA),. + FTA hỗn hợp: Đây là loại FTA được ký kết giữa một khu vực tự do TM với một nước, một số nước hoặc một khu vực TM tự do khác. Có thể coi FTA hỗn hợp là một dạng FTA song phương đặc biệt hoặc một FTA đa phương tùy vào việc ta nhìn nhận các đối tượng tham gia là hợp nhất (nghĩa là các các nước tham gia được chia 11 thành 2 bên chính - một bên là một nước hoặc một tổ chức, bên còn lại là một khu vực TM tự do hoặc một liên minh thuế quan) hay riêng biệt (các quốc gia tham gia được coi như các thành viên riêng biệt). Việc đi đến thành công của FTA hỗn hợp là một điều khó khăn và phức tạp do quá trình đàm phán lâu dài, khó đi đến đồng thuận một số quan điểm giữa các nước,.
Các FTA tiêu biểu như HĐ TM tự do ASEAN Hàn Quốc, (AKFTA), HĐ TM tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), HĐ TM tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA), HĐ TM tự do VN – EU (EVFTA),. - Phân loại theo tiêu chí về phạm vi và nội dung cam kết: + FTA truyền thống: Là các FTA được đàm phán, ký kết trong giai đoạn đầu, thường có phạm vi hẹp, mức độ tự do hóa hạn chế. + FTA thế hệ mới: Là các FTA được đàm phán, ký kết trong thời gian gần đây, có phạm vi rộng, mức độ tự do hóa mạnh. FTA thế hệ mới có những nội dung vượt ra ngoài cam kết về thương mại, dịch vụ và đầu tư, nó bao gồm cả các thể chế, pháp lý trong các lĩnh vực môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ.
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO LIÊN MINH CHÂU ÂU - VIỆT NAM (EVFTA) Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA) là một FTA thế hệ mới giữa VN và 27 nước hiện là thành viên EU. Đây là HĐ thứ hai EU ký kết trong khu vực ASEAN (sau Singapore) và được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng cường mối quan hệ song phương giữa VN và EU trong thời gian tới. EVFTA, là một trong những FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của VN từ trước tới nay. Là một HĐ toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả VN và EU.
EVFTA sẽ là cú hích rất lớn cho XK của VN, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng XK, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng VN vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Những dấu mốc quan trọng của EVFTA Khi nói đến EVFTA, ta nói đến sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cả hệ thống chính trị trong suốt một thập kỷ từ khi VN và EU đồng ý tiến hành nghiên cứu khả thi việc đàm phán HĐ TM tự do (FTA) giữa hai nước vào tháng 10 năm 2010. Điều này là bởi VN và EU là hai nền kinh tế có sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển, về hệ thống chính trị, về văn hoá tư duy, trong khi EVFTA lại là một HĐ thế hệ mới toàn diện, tiêu chuẩn cao, mức độ hội nhập sâu rộng. Trải qua 14 vòng đàm phán, nhiều cuộc họp cấp Bộ trưởng, các phiên họp cấp Trưởng đoàn đàm phán và các phiên họp cấp kỹ thuật chính thức và không chính thức, vượt qua rất nhiều khó khăn, trở ngại, với sự quyết tâm và nỗ lực thì EVFTA chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 8 năm 2020.
Đây chính là dấu mốc vô cùng quan trọng trong lịch sử kinh tế TM của đất nước. Dưới đây, tác giả sẽ điểm lại những mốc thời gian quan trọng của EVFTA: Bảng 1. Những mốc thời gian quan trọng của EVFTA Tháng 10/2010 Thủ tướng Chính phủ VN và Chủ tịch EU đã đồng ý khởi động đàm phán EVFTA.