Chương 1 đã giới thiệu sơ lược cơ bản về luận văn. Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quát một số nghiên cứu trước đây về giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở các nước. Giáo dục, vốn con người trong tương quan với tăng trưởng kinh tế Khái niệm giáo dục theo nghĩa chung là quá trình mà thông qua hoạt động giảng dạy, nghiên cứu hay đào tao đưa kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn và giảng dạy của người khác nhưng cũng có thể do tự học dưới nhiều hình thức.
Tóm lại, trải nghiệm hay quá trình nào xảy ra mà có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà con người suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Trong xã hội, người lớn giáo dục người trẻ những kiến thức và kỹ năng cần phải thông thạo và cần trao truyền lại cho thế hệ tiếp theo. Sự phát triển văn hóa, và sự tiến hóa của loài người, phụ thuộc vào lề lối trao truyền tri thức này. Để đánh giá một hệ thống giáo dục quôc gia hiệu quả cần dựa trên các tiêu chí như tính truyền giao tri thức hiệu quả , tăng hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vốn con người và chất lượng sống của con người.
Theo các lý thuyết kinh tế, đầu tư đem lại sự phát triển và tăng trưởng kinh tế cho quốc gia theo cấp số nhân. Nếu như nguồn vốn tài chính trực tiếp đem lại phát triển kinh tế tài chính, thì việc đi học ở trường, khóa đào tạo về máy tính, chi tiêu cho chăm sóc y tế, chi tiêu cho một khoá học đàn hay vẽ,.cũng chính là vốn. Chúng góp phần cải thiện thu nhập, tăng cường sức khỏe thể chất và tinh thần, hay trang bị thêm những thói quen tốt cho cá nhân trong phần lớn cuộc đời con người. Do vậy, các nhà kinh tế xem chi tiêu cho giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế, và v.v… là đầu tư vào vốn con người.
Chúng được gọi là vốn con người vì con người không thể tách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 rời khỏi kiến thức, kỹ năng, sức khỏe, hay những giá trị khác của bản thân giống như kiểu tách rời con người khỏi tài sản tài chính và tài sản vật chất của họ. Vốn con người (Schultz T., 1971) là yếu tố xác định chất lượng nguồn lao động, mà như ta luôn biết, lao động là yếu tố quan trọng cấu thành nên nền kinh tế. Vì vậy vốn con người là một trong những yếu tố tạo nên tăng trưởng kinh tế, yếu tố này không có sẵn ở các quốc gia như nguồn vốn vật chất vì vậy chất lượng của hoạt động giáo dục và đào tạo đóng vai trò then chốt quyết định đến giá trị vốn con người của quốc gia đó. Khi xã hội càng phát triẻn, vốn con người với đại diện của nó là tri thức mới, kỹ năng mới, khả năng ứng dụng thay đổi quá trình sản xuất và khả năng nó kết hợp với các yếu tố khác sẽ làm tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Nếu theo cấp độ vi mô, tăng lên vốn con người là trung tâm cho sự khác biệt về cấu trúc tiền lương và phân phối thu nhập của các nhân. Nếu xét ở cấp độ vĩ mô, vốn con người chính là yếu tố được coi như trung tâm của nền kinh tế. Các nước đang phát triển và các nước phát triển cũng sẽ có sự khác nhau về vốn con người khi xét ở góc độ vi mô và cả vĩ mô như đánh giá bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn con người hay khan hiếm vốn con người. Theo đó, tỷ suất lợi nhuận trên vốn con người và khan hiếm vốn con người ở các nước đang phát triển lớn hơn các nước phát triển (Mincer,1981).
Giáo dục - đào tạo và chăm sóc y tế là đầu tư quan trọng cho con người, nâng cao vốn con người. Từ trực quan cũng như nhiều nghiên cứu đã chứng minh giao dục trung học và đại học ở các nước phát triển như Mỹ, Úc hoặc một số quốc gia tương tự sẽ góp phần cải thiện thu nhập cá nhân rất đáng kể dù có trừ khi các chi phí trực tiếp và cả gián tiếp. Tác động này không chỉ ở một thời kỳ mà có tác động cả từ thế hệ này sang thế hệ khác gián tiếp ví dụ một đứa trẻ có bố mẹ có chỉ số IQ cao thì khả năng cao là đứa trẻ đó cũng IQ cao như thế. Bằng chứng tương tự tồn tại trong nhiều năm nay đã xuất hiện ở nhiều quốc gia có sự khác biệt về hệ thống kinh tế và thể chế chính trị.
Dựa trên các nghiên cứu về giáo dục và vốn con người trước nay có thể tạm chia tiêu chuẩn để đo lường vốn con người thành 3 phương pháp tiếp cận: (1) Tiếp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cận theo đầu ra như tỷ lệ nhập học, thành tựu học tập hoặc số năm đi học trung bình (2) Tiếp cận theo chi phí dùng để chi trả cho thu thập kiến thức (3) Tiếp cận theo thu nhập dựa trên quan hệ chặt chẽ với lợi ích của mỗi cá nhân đạt được từ đầu tư giáo dục và đào tạo (Kwon, Dae-Bong, 2009). Bài nghiên cứu này sử dụng hai cách tiếp cận là chi tiêu cho giáo dục của quốc gia và tỉ lệ hoàn thành bậc tiểu học trên người trưởng thành 2. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế có thể được đo lường bằng GDP - tổng sản phẩm quốc nội hay GNP - tổng sản phẩm quốc gia hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc PI - thu nhập bình quân đầu người Nghiên cứu này sử dụng tổng sản phẩm quốc nội trong phân tích định lượng. Tổng sản phẩm quốc nội là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ở một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định vì vậy nó thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, khi xét đến tăng trưởng, cũng cần xét đến yếu tố bất bình đẳng, vì ở một số quốc gia, dù có thể có GDP hay PI cao, nhưng người dân vẫn nghèo khổ vì mức độ bất bình đẳng quá cao. Nếu như tăng trưởng kinh tế chỉ xét về lượng thì khái niệm phát triển mang nội hàm rộng hơn cả về chất (như phúc lợi xã hội, điều kiện sống, tuổi thọ) và lượng. Phát triển kinh tế đồng thời còn tạo ra những thay đổi về cơ cấu kinh tế như tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng khu vự công nghiệp dịch vụ. Từ đó nó như quá trình hoàn thiện nền kinh tế ở nhiều khía cạnh bao gồm kinh tế - xã hội, môi trường, thể chế chính trị trong một thời gian nhất định, đảm bảo cho quốc gia tăng GDP đi kèm với tăng mức độ hài lòng và hạnh phúc trong cuộc sống.
Có hai quá trình chính tạo nên sự tăng trưởng kinh tế: quá trình tích luỹ tài sản (như vốn, lao động, và đất đai) và quá trình đầu tư những tài sản này một cách hiểu quả hơn. Tiết kiệm và đầu tư là cốt yếu, nhưng tăng trưởng đến từ đẩy mạnh hoạt động đầu tư. Ngoài ra còn rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 như chính trị xã hội bao gồm chính sách chính phủ, sự ổn định chính trị và kinh tế, trình độ giáo dục và điều kiện y tế, môi trường sống, tài nguyên thiên nhiên. Mức tăng trưởng tuyệt đối (mức chênh lệch giữa GDP trong hai kỳ cần so sánh), tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đều có thể được dùng để đo lường tăng trưởng kinh tế trong một giai đoạn.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Đo lượng tăng trưởng kinh tế bằng đơn vị phần trăm (%). Nếu biểu diễn bằng công thức toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%) Trong đó Y là quy mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng. Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa.
Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa. Các mô hình tăng trưởng được đưa ra để giải thích nguồn gốc tăng trưởng. Có thể kể đến các mô hình nổi tiếng như David Ricardo, Harrod-Domar, Solow và các mô hình tương tự.
Mô hình David Ricardo với luận điểm cơ bản coi nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế đến từ đất đai sản xuất nông nghiệp. Nhưng đất là nguồn lực có hạn, do đó người sản xuất phải sử dụng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm, dẫn đến chí phí sản xuất nhu yếu phẩm cao, giá cả hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm. Lợi nhuận là nguồn để đầu tư vậy nên lợi nhuận giảm đồng nghĩa với đầu tư giảm từ đó giảm tăng trưởng kinh tế. Theo đó, việc đất nông nghiệp có hạn dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên trên thực tế, dù đất nông nghiệp có hạn, mức tăng trưởng các quốc gia vẫn ngày càng tăng nên mô hình này không giải thích được nguyên do tăng trưởng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Các mô hình tăng trưởng Tân cổ điển tiêu biểu cho rằng tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp trong đó lao động (Labor) là yếu tố chính, còn yếu tố còn lại là tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật lên nền kinh tế. Mô hình Harrod-Domar lại cho rằng lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên là nguồn gốc tăng trưởng kinh tế. Quan điểm của Robert Solow (1956) xây dựng mô hình với luận điểm cơ bản là sự khác biệt trong tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và dài hạn.