Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến các khái niệm để làm nền tảng cho nghiên cứu này, bao gồm các khái niệm về giá trị thương hiệu, các thành phần của giá trị thương hiệu, ý định lựa chọn ngân hàng để giao dịch và mối quan hệ giữa các khái niệm này, từ đó xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.1 Khái niệm thƣơng hiệu Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu: Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (1960): “Thương hiệu là tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh”. Theo Kotler (1991): “Thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý tính và cảm tính của một sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh và mọi sự thể hiện của sản phẩm đó, dần được tạo dựng qua thời gian và chiếm một vị trí rõ ràng trong tâm trí khách hàng”. Theo quan điểm của Tôn Thất Nguyễn Thiêm: “Thương hiệu bao gổm luôn tất cả những gì mà khách hàng/ thị trường/ xã hội thật sự cảm nhận về doanh nghiệp hay/ và về sản phẩm – dịch vụ cung ứng bởi doanh nghiệp.
Còn nhãn hiệu chỉ là những gì mà thông qua đó doanh nghiệp muốn truyền đạt đến các đối tác của mình”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Giá trị thƣơng hiệu Đánh giá theo quan điểm tài chính: Theo John Brodsky thuộc tập đoàn NPD Group: “Giá trị thương hiệu là sự hiệu quả về mặt doanh thu và lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ kết quả của những nỗ lực marketing những năm trước đó so với thương hiệu cạnh tranh. Đánh giá giá trị thương hiệu dưới góc độ tài chính không giúp nhiều cho các nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển thương hiệu. Đánh giá theo quan điểm ngƣời tiêu dùng: Theo David A.Aaker của trường Đại học California: Giá trị thương hiệu là một tập hợp các tài sản có liên quan đến thương hiệu, tên và biểu tượng của thương hiệu, góp phần làm tăng thêm hoặc giảm đi giá trị của sản phẩm hay dịch vụ đối với doanh nghiệp và khách hàng của doanh nghiệp.
Ông đề nghị bốn thành phần chính của thương hiệu bao gồm lòng trung thành (brand loyalty), nhận biết thương hiệu (brand awareness), chất lượng cảm nhận (perceived quality), các liên kết thương hiệu (brand associations). Keller (1993) cũng định nghĩa giá trị thương hiệu như tác động khác nhau của hiểu biết thương hiệu lên người tiêu dùng tương ứng với việc quảng bá thương hiệu đó, hay dễ hiểu hơn, coi giá trị thương hiệu chính là kiến thức khách hàng (brand knowledge) về thương hiệu đó. Kiến thức này bao gồm hai thành phần chính là nhận biết thương hiệu (brand awareness) và hình ảnh thương hiệu (brand image).3 Vai trò của thƣơng hiệu Mang đến giá trị cho khách hàng: Giá trị thương hiệu sẽ cộng thêm hoặc giảm bớt các giá tri mang đến cho khách hàng. Tất cả các thành phần của giá trị thương hiệu sẽ giúp cho khách hàng có thể hiểu được cũng như lưu giữ được rất nhiều thông tin khác nhau về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sản phẩm và thương hiệu.
Nó mang đến cho khách hàng sự tự tin khi lựa chọn sản phẩm. Chất lượng cảm nhận và thuộc tính thương hiệu tốt sẽ nâng cao hơn sự hài lòng của khách hàng mỗi khi sử dụng sản phẩm. Một người sử dụng sản phẩm của một thương hiệu có giá trị lớn thì họ có những cảm nhận khác biệt, cảm thấy mình trở nên quan trọng hơn và những cảm xúc này sẽ gia tăng sự hài lòng của người sử dụng đối với sản phẩm. Mang đến giá trị cho doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thể gia tăng dòng tiền do giá trị thương hiệu mang lại: Doanh nghiệp có thể thu hút thêm được những khách hàng mới thông qua các chương trình tiếp thị.
Người tiêu dùng hưởng ứng với các chương trình khuyến mại sẽ nhiều hơn khi họ thấy đây là một thương hiệu quen thuộc, có uy tín và chất lượng. Sự trung thành thương hiệu sẽ giúp doanh nghiệp duy trì được những khách hàng cũ trong một thời gian dài. Sự trung thành đóng vai trò rất quan trọng trong môi trường cạnh tranh gay gắt với sự sáng tạo nhằm thu hút khách hàng của các đối thủ cạnh tranh. Giá trị thương hiệu giúp doanh nghiệp thiết lập chính sách giá cao và ít lệ thuộc hơn đến các chương trình khuyến mại.
Giá trị thương hiệu giúp cho việc mở rộng thương hiệu ít tốn kém hơn và tận dụng được lợi thế khi phân phối. Một thương hiệu mạnh sẽ hỗ trợ trong việc có được một diện tích trưng bày lớn trên kệ và dễ dàng hợp tác với các nhà phân phối hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Các thành phần của giá trị thƣơng hiệu: Mô hình đo lường giá trị thương hiệu của Aaker (1991) Theo Aaker (1991) thì giá trị thương hiệu bao gồm 4 thành phần chính là lòng trung thành thương hiệu, nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận và thuộc tính đồng hành. Sơ đồ thành phần giá trị thương hiệu của Keller (1993) Keller coi giá trị thương hiệu chính là kiến thức khách hàng, bao gồm 2 thành phần chính là nhận biết thương hiệu và hình ảnh thương hiệu.
Mô hình đo lường giá trị thương hiệu ở Việt Nam: Trên cơ sở các mô hình đo lường giá trị thương hiệu của Aaker và các tác giá khác trên thế giới, Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007) đã đưa ra mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần của giá trị thương hiệu dầu gội đầu như sau: Nhận biết H3 Chất lượng cảm nhận thương hiệu H4 thương hiệu H7 Lòng trung H1 thành thương H6 H2 hiệu H5 Lòng ham Thái độ đối muốn thương với chiêu thị hiệu Hình 2.1: Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần của giá trị thương hiệu dầu gội đầu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007) Trong bài nghiên cứu “Sự ảnh hưởng của các yếu tố marketing hỗn hợp lên giá trị thương hiệu ngành dịch vụ”, Rajh & Dosen (2009) đã đưa ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 những giả thuyết và kết quả kiểm định chúng là những yếu tố như nhận biết thương hiệu, hình ảnh thương hiệu, quảng cáo có tương quan dương với giá trị thương hiệu. Trong bài “Đo lường giả trị thương hiệu ngành dịch vụ tài chính dựa trên quan điểm khách hàng”, Chernatony & Harris (2001) đã chọn ra 3 thành phần để đo lường giá trị thương hiệu là lòng trung thành thương hiệu, sự thỏa mãn thương hiệu và danh tiếng thương hiệu. Trong bài “Những thành phần của giá trị thương hiệu: hình ảnh thương hiệu, sự hài lòng thương hiệu, và niềm tin thương hiệu”, Salma & Azhar (2011) đã đưa ra mô hình sau: Sự hài lòng thương hiệu Nhận thức/ Hình ảnh thương hiệu Giá trị thương hiệu Niềm tin thương hiệu Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu của Salma & Azhar (2011) Sau đây tác giả tổng hợp những bài nghiên cứu trước đây về những thành phần của giá trị thương hiệu, từ đó chọn ra những thành phần xuất hiện nhiều trong các bài nghiên cứu trước đây để xây dựng mô hình nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Các thành phần giá trị thương hiệu trong những nghiên cứu trước đây STT Thành phần Aaker Keller Lassar Nguyễn Leslie de Leon Salm Marinov Edo của giá trị (1991) (1993) & ctg Đình Thọ & Chernaton ard L a& a, J.
Cui, Rajh & thương hiệu (1995) Nguyễn Thị y & Fiona Berry Azha M. Ozretic Mai Trang J. Harris (2000 r Marinov Dosen (2007) (2001) ) (2011 (2008) (2009) ) Nhận biết 1 X X X X X X thương hiệu Chất lượng 2 X X X X cảm nhận Trung thành 3 X X X X thương hiệu Hình ảnh 4 X X X thương hiệu Thuộc tính 5 X đồng hành Hiệu quả 6 X quảng cáo Hài lòng 7 X X thương hiệu Danh tiếng 8 X thương hiệu Niềm tin 9 X X thương hiệu Ý nghĩa 10 X thương hiệu Ham muốn 11 X thương hiệu Tổng hợp từ các bài nghiên cứu trên, ta nhận thấy các yếu tố như nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, trung thành thương hiệu, hình ảnh thương hiệu xuất hiện trong hầu hết các bài nghiên cứu về thành phần của giá trị thương hiệu như những yếu tố cốt lõi. Các yếu tố này cũng được xem xét LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 trong các bài nghiên cứu về các thành phần của giá trị thương hiệu trong lĩnh vực ngân hàng như của Aziz & Yasin (2010), Abdoli & các cộng sự (2012), Das (2012), Nadernezhad & Vakilalroaia (2013), Kazemi & các cộng sự (2013).
Bên cạnh đó, yếu tố niềm tin thương hiệu cũng xuất hiện trong bảng tổng hợp trên tuy không chiếm tỷ trọng lớn nhưng đối với lĩnh vực ngân hàng nhiều rủi ro và giao dịch hoạt động trên tiền và tài sản của khách hàng thì đây là một yếu tố quan trọng, thiết nghĩ cần được đưa vào mô hình để nghiên cứu. Vì vậy, tác giả xin đưa ra các thành phần giá trị thương hiệu của các Ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam như sau: 2.1 Nhận biết thƣơng hiệu: Theo nghiên cứu và kết luận của các nhà khoa học Aaker (1991), Keller (1993), Berry (2000)… thì nhận biết thương hiệu là một thành phần của giá trị thương hiệu. Mức độ nhận biết thương hiệu nói lên khả năng một người tiêu dùng có thể nhận dạng và phân biệt những đặc điểm của một thương hiệu trong một tập các thương hiệu có mặt trên thị trường. Nhận biết thương hiệu là một thành phần quan trọng của giá trị thương hiệu (Keller, 1993).
Theo Aaker 1991, ông cho rằng có ba mức độ nhận biết thương hiệu. Thứ nhất là nhận ra thương hiệu, nó phản ánh sự quen thuộc. Thứ hai là hồi tưởng thương hiệu, tức khách hàng có thể nhận diện một thương hiệu từ một danh sách liệt kê hay nhờ vào các gợi ý. Tuy nhiên có ít hơn khách hàng có thể “phục hồi” một cái tên từ trí nhớ mà không cần bất kỳ nhắc nhớ nào, đó là mức độ cao nhất của nhận thức thương hiệu, lúc này thương hiệu có vị trí cao nhất trong suy nghĩ của khách hàng.
Nhận thức thương hiệu ở mức độ cao nhất này bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm về thương hiệu trong quá khứ của người tiêu dùng (Peter &Olsson, 2008).