Phần mở đầu Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương 5 Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, học viên giới thiệu các khái niệm liên quan đến nghiên cứu gồm: Những khái niệm và cấu trúc về các bộ phận cấu thành giá trị kinh tế gia tăng, những tiêu chí đánh giá hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại, lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị kinh tế gia tăng và hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại. Tiếp theo đó, dựa trên cơ sở lý thuyết đã tổng hợp học viên đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Nội dung lý thuyết về giá trị kinh tế gia tăng Theo định nghĩa của Công ty Stern Stewart: “Giá trị kinh tế tăng thêm là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động trước lãi vay sau thuế và chi phí sử dụng vốn”. (Công ty Stern Stewart, 1992) Tính toán EVA Cơ sở xác định EVA : EVA = NOPAT – (TC x WACC) - EVA: Được tính bằng lợi nhuận thuần sau thuế và trước chi phí tài chính (NOPAT - Net operating profit after tax) trừ chi phí sử dụng vốn bình quân của tất cả các tài sản kinh doanh được sử dụng vào việc tạo ra lợi nhuận.
- TC: (Total capital): Vốn đầu tư xác định bằng tổng tài sản bình quân trên bảng cân đối kế toán. - WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền theo tỷ trọng các nguồn vốn (bao gồm cả vốn vay và vốn chủ sở hữu). Ưu điểm nổi bật nhất của thước đo EVA là có tính tới chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, đây là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh này thay vì lĩnh vực kinh doanh khác. Qua đó có thể xác định chính xác giá trị thực sự các khoản lợi nhuận được tạo ra cho các nhà đầu tư, cổ đông trong một thời kỳ nhất định.
Các thước đo tài chính khác thường không tính tới loại chi phí này. Thứ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hai, khi xác định EVA đòi hỏi các chỉ tiêu được phán ánh theo quan điểm kinh tế khắc phục được hạn chế của các thước đo truyền thống khác khi sử dụng số liệu kế toán phục vụ cho việc tính toán. Vì vậy, khi tính toán EVA cần phải dựa trên quan điểm kinh tế coi tất các các nguồn vốn được huy động vào hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh đều phát sinh chi phí sử dụng vốn và phải được phản ánh theo cơ sở tiền tệ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Cấu trúc của EVA NOPAT (Lợi nhuận thuần sau thuế): Là khối lượng lợi nhuận một công ty tạo ra nếu như không có các khoản nợ và không có tài sản tài chính.
NOPAT thường được sử dụng trong tính toán giá trị gia tăng (EVA). Nó được tính như sau: NOPAT = Thu nhập hoạt động x (1 - Thuế suất). NOPAT là một cái nhìn chính xác hơn về hiệu quả hoạt động cho các công ty sử dụng đòn bẩy tài chính và nó không bao gồm các khoản tiết kiệm thuế mà nhiều công ty nhận được do các khoản nợ hiện tại. Bên cạnh việc cung cấp cho các nhà phân tích một thước đo về hiệu quả hoạt động cốt lõi mà không có sự ảnh hưởng của các khoản nợ.
Các nhà phân tích thực hiện các thương vụ sáp nhập và mua lại (M&A) còn sử dụng lợi nhuận thuần sau thuế để định giá cho các thương vụ giao dịch. Họ sử dụng chỉ tiêu này để tính toán dòng tiền tự do của công ty (FCFF), bằng với lợi nhuận sau thuế sau khi loại trừ thuế và trừ đi những thay đổi trong vốn lưu động. Họ cũng sử dụng nó để tính dòng tiền tự do của công ty (FCFF), bằng lợi nhuận sau thuế trừ đi vốn. Cả hai chỉ tiêu chủ yếu được các nhà phân tích sử dụng để tìm kiếm các mục tiêu mua lại, vì nguồn tài chính của người thâu tóm sẽ thay thế các nguồn lực tài chính hiện tại.
Một cách khác để tính lợi nhuận ròng sau thuế là thu nhập ròng cộng với chi phí lãi ròng sau thuế, hoặc thu nhập ròng cộng với chi phí lãi ròng, nhân với một, trừ đi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. WACC (Chi phí vốn bình quân gia quyền): Là chi phí bình quân gia quyền của tất cả các nguồn tài trợ dài hạn mà một doanh nghiệp đang sử dụng. WACC được doanh nghiệp xác định dựa trên tỷ trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Vốn của doanh nghiệp bao gồm: Vốn cổ phần thường, vốn chủ sở hữu, cổ phần ưu đãi, trái phiếu và các khoản nợ dài hạn khác.
Chi phí sử dụng vốn bình quân được tính toán như sau: WACC = (E/V)*Re + (D/V)*Rd *(1-Tc) Trong đó: Re = Chi phí sử dụng vốn cổ phần. Rd = Chi phí sử dụng nợ. E = Giá trị thị trường của tổng vốn cổ phần. D = Giá trị thị trường của tổng nợ của doanh nghiệp.
V = Tổng vốn dài hạn của doanh nghiệp. Tc = Thuế thu nhập doanh nghiệp. Nói rộng hơn, tài sản của doanh nghiệp được tài trợ dù bằng vốn chủ sở hữu hay bằng các khoản nợ thì chi phí sử dụng vốn bình quân là chi phí sử dụng vốn bình quân của các khoản tài trợ của doanh nghiệp. Bằng việc tính toán chỉ số chi phí sử dụng vốn bình quân, chúng ta biết được doanh nghiệp phải tốn bao nhiều chi phí cho mỗi đồng tiền tài trợ cho doanh nghiệp.
Chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp còn được gọi là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi tối thiểu mà doanh nghiệp phải đạt được khi quyết định thực hiện một dự án mở rộng nào đó, hoặc quyết định mua lại doanh nghiệp khác. Chi phí sử dụng vốn bình quân được sử dụng như một tỷ lệ chiết khấu thích hợp đối với các dòng tiền từ các dự án có mức rủi ro tương tự mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Còn nếu dự án có mức độ rủi ro cao hơn thì tỷ lệ chiết chấu sẽ đòi hỏi một tỷ lệ cao hơn tương ứng với mức rủi ro của dự án đó và ngược lại. Chi phí sử dụng vốn bình quân có thể thay đổi trong các giai đoạn khác nhau do cấu trúc vốn và chi phí sử dụng các nguồn vốn thường không cố định.
TC (Vốn đầu tư): Là tổng hợp các loại chi phí để đạt được mục đích đầu tư, thông qua xây dựng nhà xưởng mua sắm máy móc thiết bị, do đối tượng của đầu tư rất phức tạp, nên tính chất của đầu tư vốn cũng rất đa dạng, do đó cần phải phân loại vốn đầu tư để phản ánh được mọi mặt hoạt động của đầu tư, thấy được quan hệ tỷ lệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đầu tư trong doanh nghiệp, thấy được sự cân đối hay mất cân đối trong sự phát triển toàn diện của ngành xây dựng và ở mỗi doanh nghiệp, để hướng đầu tư vào từng đối tượng, từng yếu tố theo đúng chiến lược phát triển của Nhà nước, của ngành cũng như của doanh nghiệp. Cũng giống như chi phí sử dụng vốn bình quân, tổng nguồn vốn đầu tư thường không cố định và cơ cấu nguồn vốn đầu tư, cấu trúc nguồn vốn tài trợ đầu tư cũng có sự thay đổi theo từng giai đoạn. Nội dung lý thuyết về hiệu quả tài chính Khái niệm về hiệu quả tài chính Theo nghiên cứu của Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên (2001), “Hiệu quả tài chính doanh nghiệp là hiệu quả của việc huy động, sử dụng và quản lý vốn trong doanh nghiệp. Trên quan điểm của chủ sở hữu doanh nghiệp, hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc giữ gìn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu”.
(Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, 2001, trang 23) Bản chất tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ giữa lợi nhuận sau thuế – cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi, vốn cổ phần phổ thông, số cổ phiếu phổ thông bình quân gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh. Hiệu quả tài chính có mối quan hệ tương đối chặt chẽ với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế xã hội và mức độ rủi ro. Bên cạnh đó, hiệu quả tài chính phụ thuộc nhiều điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng quản trị tại các đơn vị. Khi đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp thì hiệu quả tài chính được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất để xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Các yếu tố cấu thành hiệu quả tài chính Hiệu quả là sự so sánh giữa nguồn lực đầu vào khan hiếm (lao động, vật tư, máy móc thiết bị…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng. Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó. Chúng ta cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp (như số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm…).
Trong khi đó, hiệu quả kinh doanh sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả đầu ra và các nguồn lực đầu vào để đánh giá. Hiện tại có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp, nhưng có thể chia thành hai nhóm: i) Các hệ số về khả năng sinh lời; ii) Các hệ số giá trị thị trường. Thứ nhất, các chỉ tiêu khả năng sinh lời được dùng nhiều nhất bao gồm: Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ suất cổ tức trên giá cổ phiếu (DY), Lợi nhuận trên doanh thu (ROS), hoặc Lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI). Kết quả của các chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào cách tính lợi nhuận như: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), lợi nhuận thuần cộng với lãi vay (trước hoặc sau thuế), lợi nhuận thuần, lợi nhuận trước thuế với lãi vay và khấu hao tài sản (EBITDA).